Lòng thong thả tôi bước trên đoạn đường đã đến.

Lòng thong thả tôi bước trên đoạn đường đã đến.
Tôi nhìn xuống mặt đất, thấy đất dày đặc, kín bưng. Tôi ngẩng đầu lên thấy bầu trời trong xanh vô tận. Tôi bâng khuâng tự hỏi mình đang ở đâu đấy trong khoảng trời trong xanh vô tận này, mình đã bắt đầu hay chấm dứt… !
          Cái ta mình nay tự mang vác cho kềnh càng ra, hay tự làm cho bể vụn?
Lòng thong thả tôi bước trên đoạn đường đã đến.
Tôi nhìn xuống mặt đất, thấy đất dày đặc, kín bưng. Tôi ngẩng đầu lên thấy bầu trời trong xanh vô tận. Tôi bâng khuâng tự hỏi mình đang ở đâu đấy trong khoảng trời trong xanh vô tận này, mình đã bắt đầu hay chấm dứt… !
          Cái ta mình nay tự mang vác cho kềnh càng ra, hay tự làm cho bể vụn?
         Tôi bỗng lặng yên cho hồn tụ lại…  lòng còn lặng lẽ ưu tư nhưng rồi tôi đã nhìn thấy các bạn chung quanh tôi. Mỗi người đều đưa mắt dịu dàng nhìn tôi thông cảm bảo: “Hãy nói đi, hãy nói đi những nỗi lòng u uất, vì tai chúng tôi là cặp cánh lắng sâu vào tận quả tim người”.
         Tiếng gió từ hang sâu của người sẽ tạo thành khí quyển che chở cho đàn sếu chúng tôi đi về phương xa truyền gọi, sẽ làm cho lòng người ấm lại và thênh thang.
         Vậy này các bạn, xin hãy cảm thông cho: Những người đã từng sống cùng những nơi tôi hằng sống, thường gọi tôi là “Người mây trắng ”.
        Vì sao mà tôi lại bị mang danh là Người mây trắng, đó là sự thiệt thòi không có một chút gì chắc chắn ở trong tôi. Mây chỉ là hơi nước bay vẩn vơ rồi tụ lại. Hơi nước đã chắc gì là thật mà mây lại còn mượn hơi nước để thành danh. Nó không có vốn tự thể nên lại vay mượn qua ánh sáng để tụ hình. Nó còn có thể đen, xanh, vàng, đỏ như cái mống hợp tan còn phải tùy theo duyên hơn nữa. Không biết tôi có thật sự mượn hơi nước mà sống không nhưng trên danh từ có nó, có Tôi cùng xô đẩy hiện ra để cho người ta nắm tên mà réo gọi.
        Riêng tôi  không biết cái kích thước thật của mình là đâu, lớn bao nhiêu, nhỏ bao nhiêu, trẻ già thêm mấy tuổi? Tôi chưa bao giờ phải xác định.
         Ngoài hai con mắt thông thường, tôi lại còn được một con mắt bên trong. Nhờ con mắt này mà tôi tự biết vì đâu tôi buồn, vì đâu tôi giận…  Tôi cũng có thể dễ tự khóc cho mình, hay cho kẻ khác. Khóc không dành riêng cho trẻ con, nó cũng ở  người lớn. Tôi không tự cho mình là lớn hay nhỏ nhưng sự mắc cỡ và tự ái là loại nội xúc rất tế nhị nên lắm lúc những cái không tiện phô bày lại trở nên như giấu giếm.
        Người ta nói những giọt nước mắt người  này có thể làm mềm lòng những người khác. Đôi khi nó kích động mà biến thành một cơn sóng mà trong giới tính nó có thể rửa mềm và nhận chìm trung - nhân đối tượng. 
         Riêng ở trong tôi thì nước mắt không chảy thành dòng, mà nó nhè nhẹ lan dần như mù sương trên một vùng cao cô tịch, là nỗi muộn phiền tư lự khôn nguôi. Ôi, nếu bạn nhỡ chia xẻ cùng tôi  khoảnh khắc này thì xin đừng trách cứ. Vì sao mà nỗi ưu phiền của tôi lại lâu dài như thế? Nó cứ mãi lan dần, lan dần trên một dòng sông rộng lớn. Nó tạo thành cái hấp lực ma quái, quạnh hiu, vàng vọt như màu nắng quái chiều hôm.
        Và giờ đây tôi sẽ thuật lại một đoạn đầu để các bạn được rõ.
Đó là một thời gian đã trôi qua, những ngày đã trôi qua, những tháng đã trôi qua, những năm dài vụt thoắt. Thời ấy tôi sống trong một hang đá thâm u, lạnh lẻo trên một rặng núi có nhiều mây, tôi đã làm được những bài thơ hay, tôi thường dạo chơi một mình trong núi rừng xanh tươi và tĩnh lặng.
       Rồi những ngày mùa hạ, dưới cái nóng oi bức giữa dòng đời và sa mạc không nước ở bên trong. Sa mạc là ảo ảnh, hoang vu và nơi đó giống như một con quỷ màu xanh. Con quy đó có đôi môi thật tím, lưỡi thật dài, thật dẻo dai giữa hai hàm răng nhọn. Con quỷ đó đã từng đa hình, dị dạng. Nó đã hiện thân trong sự thuần phục, tín thành. Nó nói: “ Thưa Người mây trắng, xin Người hãy thuyết pháp!”
       “Theo các bạn nghĩ sao?” Tôi vốn chỉ là chút hơi nước hợp tan bé nhỏ, làm sao tôi biết lửa của địa ngục đã tràn lên trần thế. 
         Rồi từ đó tôi thuyết pháp cho Con quỷ màu xanh có trên năm mươi bài đều thông suốt, trừ bài cuối mà tôi đã bỏ quên là: “Lửa địa ngục và quỷ màu xanh”. Quỷ màu xanh có dáng vẻ thật tín thành, nó thật là khôn ngoan, nó biết hợp thời, làm những gì để hợp pháp vì  nghề của nó ngày xưa là cài nút áo và sửa ly quần cho quan Thái giám. Nó từng nói: “ Thưa ngài, tôi sẽ cài nút áo và sửa ly quần cho ngài!” Tôi bảo: “Này Thanh nữ, các khuy áo của ta lâu ngày đã lỏng, ngươi có thể cài kín cho cái thân thể ăn lá rau của ta được ấm, đó cũng là một điều thiện nhưng ly quần thì thôi đi vì là thứ vải bố xuềnh xoàng không nếp gấp! ”
        Thế rồi nó giận dữ vì cái quần không ba-ghết, không đường ly.  Đôi mắt nó trở nên lầm lì hiểm độc. Chiếc lưỡi dài của nó co lại và thổi ra vi vút những luồng âm thinh triệu tập theo truyền thuyết thời xưa gọi là Xà Quỷ phong hay là Xà độc phong. Hơi độc của Thanh nữ có sức cuốn hút những loài đồng nghiệp, nước bọt của nó rơi vãi vào những đôi mắt cận thị đóng mây của các bộ đầu, địa tướng của nhà vua, làm cho những người đáng thương mắc mưu nằm gọn trong lòng tay của nó nhưng tôi vốn dĩ là Mây và thân tôi là Nước tự thể nhu mềm nên đã dễ tan thành lệ chảy. Lệ chảy vì  sợ thân tôi đã thành tan tác. Những chiếc lá xanh vàng từ thượng đỉnh rừng tôi phải rụng rơi, lìa cành lả tả, những chòi  lều nương náu của tôi cháy đỏ, bị ngọn lửa chôn vùi nơi muôn ngàn chiếc miệng.
        Tôi chết đi và sống lại nhiều lần. Đồng loại của tôi rơi thành địa ngục. Tôi phẫn uất và phát tiết ra rằng:
“ Màu xanh địa ngục rộng dài
Trời than quỷ khóc đền đài đổ rơi…!”
        Thưa bạn thân quý, đây là một sự thật trăm phần trăm nhưng tôi chỉ có thể phải dùng một “Thuật văn trừu tượng ” nên khi đọc bạn sẽ có một cảm xúc mơ hồ trong tâm. Xúc cảm mơ hồ đó lần lượt tỏa nở như một vận hành nhất định và cuối cùng bạn đã hiểu ra. Đó cũng giống như những chất liệu từ sắc, tâm qua hiện tượng đã gôm lại, hình thành ấn tượng âm thanh, ngôn ngữ lục bát mà tôi  đã dâng bạn qua tình người. Tôi xin chia xẻ một bài thơ dưới đây:
Dinh Sơn còn nhớ Mây Trời
Nhớ chăng ngày ấy một lời sắc son
Ta là “ Mây ” ở đầu non
Phủ dài trắng xóa lòng con suối chiều
Suối ơi, Ngươi có ngậm ngùi
Róc ra róc rách tiếng lời thở than
Thương ơi “ Mây Trắng ” dặm ngàn
Bay qua khắp xứ đoạn trường gió mưa
Ta là ngũ sắc Vân thừa
Lặng lờ đỉnh núi hồn chưa lỗi lầm
Hay nào một khúc huyền thâm
Tiếng tơ tiếng trúc tiếng trầm cũ Mai
Hay chi tiếng Thảo Kim Đài
Làm tuông gió sạn, làm mưa máu chiều
Cây buồn đá lạnh cô liêu
Vời trông chiếc nhạn ngày hiu hắt về
Ta là Mây giữa Sơn khê
Tỉnh dòng Thế mộng, vượt mê ẩn ngàn
Mà sao phú thủy đường quang
Mà sao chạm mặt một trang điếu đồ
Xưa ngày nắng ấm vàng tô
Hồn trong lá lục khéo phô vẽ Huyền
Chợt rùng quay mộng nhân duyên
Chợt chiêm bao gặp “ Do-Diên” hãi hùng
Binh gia Diêm tước cùng hung
Oai phong rợn khiển một vùng Hắc Khiêu
Thần ơi, Mây đã tiêu điều
“Tam Thanh Quán” đã phiêu phiêu lửa hồng
Xiển cùng Triệt giáo oai phong
Mang mang Hồn trận ngập trong Huyết đồ
Minh vương Huyền Sĩ thế cô
Mồm tuông máu đỏ chân hồ gãy tan
Kéo lên trên bảng phong thần
Dây oan còn buộc khó phân đặng nào
Rùng mình đá gọi trời cao
Hãi kinh “chính sự” nhọc lao bảy tần
Ba phen tìm chỗ ẩn thân
Bốn phen nhờ được chư thần chở che
Mây bay bay giữ đường ngay
Gió theo mây biệt giữa ngày lạnh băng.
        Đó là những giọt lệ long lanh theo dòng suối từ trên cao chảy xuống.
       Giờ đây nước mắt đã nguôi, suối lệ nhập vào dòng sông to lớn, hóa thân vào bể cả mênh mông, Mây vẫn bay và nắng đẹp thanh bình.
         Mây bay xuống núi lần hai. Cuộc hạ sơn gần 30 năm về trước như trong bài “ Bồng Lai mây bạc ” như các  bạn đọc đã thấy…  Tôi cùng Mẹ Trầu, Ông Sáu, tất cả tùy tùng đại chúng của Liên Huê Đạo Tràng rời Dinh Sơn đỉnh lần thứ nhất.
        Mẫu trầu, Lục Sáu không rời núi Dinh hồi đó thì bây giờ không có Quan Âm tu viện rộng lớn dường ấy, không có cả mấy mươi ngôi chùa biết niệm Phật, ăn chay cùng hàng ngàn môn đồ hướng đạo. Như thế cần cảm ơn cái trắc trở ban đầu. Thế tu bổ sơ khởi càng chông gai, càng làm ta vững mạnh. Tôi cũng thế. Mây không bị Xà Quỷ phong thổi xuống núi lần hai thì làm gì có chứng nghiệm ( Sách CHỨNG NGHIỆM của Người Mây trắng đã in) làm gì có Cánh Hạc trong đêm ( Sách CÁNH HẠC TRONG ĐÊM tức NGƯỜI KIẾN TÍNH đã in) và làm sao mà có duyên cho tập sách nhỏ bé này xuất hiện!?
       Thế nên tôi vô cùng cảm ơn Xà Quỷ phong đã thổi “Mây” rời núi. Chiếc lưỡi dài vi vút như Xà phong đó chính là lưỡi rộng dài của Tiên Diện Đại Sĩ chuyển di tôi đến bờ vô hạn.
         Người Tây Tạng không may mắn nhờ những xúc đoạt lớn lao, không có những bức não tận cùng thì không mấy người đã rời khỏi nóc nhà Thế giới. Ngày nay, chúng ta khó mà gặp được các Rinpoche, những thành tựu giả lớn lao, không những các hóa thân như Đalai Lama thứ 14, Thubten Zopa… các hóa thân của dòng Situ (Karma - Kargyudpa Phái mũ đỏ). Ta còn biết sự tái sinh có chủ động đương thời trong hiện tại như Osel Rinpoche, Ling Rinpoche,Trijang Rinpoche, Zong… Những đáp án lớn lao của thời đại.
          Ai đã biến đổi cái Tiêu cực thành Tích cực của Tây Tạng, ai có thể làm chảy tan lớp tuyết dày từ Hy Mã Lạp Sơn thành dòng mực lượn lờ nhấp nhô như những chiếc thuyền từ trên sóng biển của thế giới ngày nay: Những tác phẩm thuyền từ mà ta đã đọc. 
          Mặc dù công lao không nhỏ đã dẫn hướng từ thời bà Alexandra David Néel cùng nhà triết gia Anagarika Govinda ( người Pháp và Đức)  từ tác phẩm Der Wegder Weissen Wolken: Con đường Mây Trắng và Voyage dune Pari sienne à Lhassa. Cuộc du hành của một phụ nữ Pari tới thủ đô Tây Tạng nhưng công đức nhọc nhằn lớn lao đó là sự xúc tác của người Trung Quốc.
          Chỉ có Đại Hộ Pháp lớn lao Trung Quốc mới làm cho người Tây Tạng khởi hành qua nhiều Châu lục và trở nên bậc thầy vĩ đại.
          Tôi thật lòng tri ân dù Thánh Phàm, dù Ma quỷ đã cho Mây Trắng lòng tôi bay tận cùng thế giới mang chút sương mát đại đồng lan dần vào bản thể nóng sôi trên cánh chuồn, đọt cỏ. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng đều có tâm tri ân những đối tượng và khổ cảnh nghịch hành được như thế. 
          Như hồi ở Chùa Nhất Nguyên tôi được Lục Sáu, Mẹ Trầu hoan hỷ nên mở được những khóa niệm Phật liên tục 100 ngày tương tự như Bác Chu tam muội và Thất Nhật kỳ khóa. Mặc dầu khởi sanh được điều tốt nhưng lòng tôi không đủ tốt để nhẫn nại điều hành như một việc sau đây đã xảy ra:
        Năm đó tôi 23 tuổi từ trên núi Bồng Lai xuống mở Bách Nhật Tịnh kỳ tại Nhất Nguyên. Khai đàn và Hướng dẫn Pháp Thức bên  trong đã ổn định, tôi ra ngoài sân cùng mấy vị tu uống nước trà. Tôi còn nhớ rõ tôi đang ngồi xếp bằng dưới bức chiếu trãi giữa sân cùng mấy người nói chuyện, uống nước trà, bỗng có một người mặc đồ đa, đầu cạo tóc đến chỉ vào mặt tôi và chửi bới thậm tệ! Tôi vẫn ngồi yên không phản ứng. Anh ta không làm gì hơn được, bèn thách tôi đứng lên để “đấu võ” với anh ta! Tôi vẫn lặng yên, không phản ứng gì, cuối cùng anh ta bước tới đá vào mặt tôi. Tôi không nhớ anh ta đá mấy cái nhưng trong miệng tôi đã có máu chảy ra. Một trong những người  có mặt ở đó vội dời tôi vào cốc ở phía trong.
           Sáng hôm sau, tôi bỏ khóa tu trở về lại tịnh thất ở Biên Hòa. Mẹ và ông Sáu cũng đang ở đây. Tôi cầm một cái áo có dính máu từ trên lầu quăng xuống đất và bảo rằng không niệm Phật nữa. Tôi có đủ “nhẫn nhục ở bên ngoài” nhưng không đủ kiên nhẫn ở trong lòng. Tôi thành công trên hình thức giới thiệu một món đồ quý hiếm nhưng bên trong hộp đựng của nó thì không đủ “chất lượng ”. 
         Tôi xin kể các bạn nghe một vài câu chuyện vui mà có sự kì quặc. Hồi đó, tôi và “Sư Kiên” đã nhiều lần gây chiến với nhau. Vì cùng ở một dãy núi nên tôi và Sư Kiên gặp mặt rất thường xuyên. Có một hôm tôi đi ngang một cái cốc, thấy Sư ngồi đàm đạo với một Sư nữ. Không biết vì sự rắn mắc, vì tuổi trẻ (năm đó tôi  22 tuổi) hay vì tính hiếu kỳ mà tôi đi tới sát thật gần. Tôi dang tay đẩy chụm hai cái đầu tán mạnh vào nhau kêu một tiếng “Cộp”! Sư nhìn thẳng vào mặt tôi, sắp phát tái! nhưng Sư nữ ngồi bên có lẽ là người “đắc đạo” nên bà ta rất bình tĩnh nhìn tôi như một bàn tay kỳ diệu thâm trầm và nói: “Kìa, coi thầy kìa…!”. Tôi mất hứng và bỏ đi.
         Sau đó mấy hôm Sư Kiên lại gặp tôi, đôi mắt cùng ngón tay chỉ thẳng vào tôi…  “Một tràng Tiếng Âm” từ miệng môi Sư rung lên liên tục phát vào tôi… Tôi không hiểu “Tiếng âm” (tiếng của kẻ vô hình, âm giới ) nói những gì nên rất bực và tức giận. Tôi bước tới gần, nghiêng bàn tay mặt đưa lên (như một cương đao) và gạt mạnh… (theo thế xuyên thoa) Tay sư cứng cáp nhưng không chịu nỗi đòn nghề đó phải bị hất văng ra. Thể hình sư lớn và cao hơn tôi nên Sư nghiêng mình và đưa tay mặt chộp tới suýt nữa thì nắm vào cổ tôi. Tôi ngồi thụp xuống, hai tay Sư lại chồm tới, đè mạnh xuống đôi vai của tôi, tôi hoảng quá tính chống hai tay về sau và đá ngược lên hạ bộ của Sư…  Không ngờ sau lưng tôi là một cái mương sâu nên tôi chỉ ghìm được hai cùi chỏ sát bờ mương và đá chéo vào hông trái của Sư. Một bàn tay của sư chộp mạnh vào cổ chân tôi nhưng chân tôi đã co lại nên sư chỉ nắm trúng ống lai quần tôi và giựt mạnh, quần tôi tuột xuống. Tôi kinh hoảng và vì hổ thẹn nên tôi vùng mạnh dậy, định chạy tới gần đó lượm một cái cây… bỗng cô thị giả của tôi không biết từ đâu vừa tới thấy tôi quật cường quá sợ xảy ra tai nạn nên cô ta từ phía sau ôm chặc cứng lấy tôi. Tôi biết là cô thị giả nên không thể đẩy chỏ về phía sau để thoát được! Tôi la to: “Thả ra, thả ra… ” nhưng cô nhất định không thả còn xiết tôi chặc lại. Sư Kiên ở phía trước chồm tới, vật tôi xuống và cắn mạnh vào hổ khẩu tay mặt của tôi đúng vào huyệt Hợp cốc làm cả bàn tay tôi tê dại hẳn (cho đến nay, ngón tay này phải chịu tật ).
       Tôi và Sư Kiên còn nhiều lần chiến đấu nữa…  Năm đó, Sư gần 40 tuổi, người cao lớn hơn tôi nhiều, Sư đã có lợi thế nhưng Sư không cố ý hại tôi. Thật ra thì bản chất của Sư cũng không có gì là hung dữ cả. Sư suốt đời ở trong núi không phe phái, giáo hội gì cả, lại “dị ứng” về mặt chính quyền (thời chế độ cũ) nên rất ít người gặp và biết được Sư như thế nào. Tôi may nhờ gặp được nhiều bậc danh đức cao tăng, đọc rộng nghe nhiều nhưng tính khí của tôi lại quá phản kháng, lại ngang tàng thành ra chẳng bằng ai, mà chẳng được gì cả! Tôi không thành toàn được Pháp nhẫn mà lại còn làm cho người khác nổi sân nữa như câu chuyện chơi rắn sau. 
        Hồi mới xuống núi (1964) ở Tân Lại có sư Hồng Quang cũng ở sát chân núi Dinh xuống thăm MẫuTrần. Một hôm Sư ra nằm ngủ trưa bên bờ sông trên một tấm ván. Hôm đó là ngày 14, tôi vừa cạo tóc xong gần đó, thấy Sư nằm ngủ miệng hé ra, tôi liền bốc một nhúm tóc đến gần bỏ vào miệng của sư. Sư mở mắt giật mình nghe trong miệng có cả nắm tóc sư hoảng kinh la to: “Ông Bạch Vân giết tôi, ông Bạch Vân giết tôi rồi…!”. Sư rượt tôi chạy quanh khắp cả khu vườn. Tôi cười to vừa chạy vừa la: “Đời vô thường mà, sư có số mạng chưa chết đâu, cứ nhìn xuống chân sư còn chạm đất và còn có cái bóng, nên chưa phải người âm, chưa phải ma đâu!” Sư tức mình đứng lại và bất ngờ sư cũng nhìn xuống chân mình một cái. Mắt tôi tinh lắm vừa thấy cử chỉ của sư ( nhìn xuống) tôi liền nói: “Đúng không? Là một tỳ kheo thì không vọng ngữ. Tôi có tội xin xám hối, sư cứ đứng yên há miệng ra đừng thở để tôi chạy vô trong mượn cái cào ra cào tóc cho sư!” (mấy mươi năm sau tôi có nghe nói sư Hồng Quang là bổn sư của thiền sư Thiền Đức, viện chủ Liễu Quán Nhất, Thượng tọa trụ trì chùa Linh Sơn và cư sĩ Thiện Quang. Cách nay đã 40 năm, không biết hồi đó các thượng tọa này đã thụ giới xuất gia chưa? Nếu là đã có rồi thì tôi chân thành xin lỗi vậy! Tôi không biết rõ lắm).
         Hồi còn trẻ, bản chất của tôi lại quá ư hoạt dụng, tiếu ngạo, rắn mắc như thế nên quý thầy bạn thường dè tránh tôi, dù họ rất mến mộ tôi về sự hành trì chuyên tu, nể phục tôi vì khả năng đọc sách, tổ chức và xướng ngôn v.v… Tôi không dừng trong một chừng mực nào cả. Tôi kể thêm một vài sự cố dị dạng sau đây để bạn đọc hình dung được những động thái hài hoạt của tôi lúc đó đến mức nào. Một hôm ông Đạo Dừa ( Nguyễn Thành Nam) từ cồn Phụng ở miền Tây lên Sài Gòn, không biết là ông Đạo Dừa có dụng ý viếng thăm Mẫu Trầu hay không mà hai sư tổ dị nhân này gặp nhau giữa một đoạn đường. Lúc đó có tôi đi sau Mẫu Trầu. Từ xa đã thấy phía trước, rõ ràng là một Quái nhân đi tới, người nhỏ thó, lưng cong như vòng cung mặt nhỏ, ngũ quan triều cung, mắt sáng tinh anh. Vì lưng còm nên đôi vai tự nhiên thấp xuống làm cho gương mặt thẳng đứng kì dị. Trên đầu tóc lại đoanh cứng thành vòng tròn như một con rắn khổng lồ khoanh tròn. Ông mặc một mảnh vải có ô vuông như lưới bóng chuyền không tay, không cổ, không có nút giữa,… vai mang một chiếc bầu hồ lô. Chân không dép như chỉ lướt nhẹ trên mặt đất mà đến.
         Bên này Mẫu trầu thân to xương lớn, mũi thẳng mày dài, mặc quần y nâu quấn, áo thượng hở vai, chân không mang dép, tay cầm trượng côn. Mắt của Mẫu trầu cũng rất sáng to khi hai luồng nhãn tuyến gặp nhau khoảng cách chừng năm mét, Đạo Dừa bỗng giật tay lên ngang tầm mắt, ngón giữa như một luồng chỉ phong thẳng tắp và xỉa tới! Mẫu trầu như đồng thời với Đạo Dừa ông hất nhanh và mạnh cánh tay to dài, bàn tay xòe lớn lên quá đầu đẩy tới chừng 30 phân rồi giật mạnh và dựng đứng bàn tay lên! Đây quả nhiên là những “thế chào” của hai vị Tổ lập đạo (Minh giáo) ở miền Nam thời đó (1960). Tôi đứng một bên mục kích, không biết vì sao bỗng nhiên tôi lại nhảy vọt vào giữa hai người, mỗi vai một bên, chân co lại như hạ tấn hai tay tôi hất xéo ngược lên vai, bàn tay dựng đứng như lưỡi dao và dừng lại như một thế chận!
        Nói theo thế thường thì không ai làm như vậy, và cũng không một người nào dám làm như vậy trước hai vị kỳ nhân này! Hồi đó tôi chưa đọc được những truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Nam Kim Thạch, Trần Thanh Vân… ( dường như năm 1962 - 1963 thì tác phẩm “Cô gái Đồ Long” của Kim Dung còn đăng từng bài trên báo ở Sài Gòn) vì thế nên tôi không có khả năng bắt chước.
         May mà Mẫu trầu nổi lên một tràng cười làm rung động cả loài chim chóc xung quanh… và làm tôi cụt hứng. Tôi còn sanh chuyện và xen phá vào những việc to lớn đông đảo hơn thế nữa nhiều lần. Các bạn sẽ giải trí vào những chương sau để các bạn thấy tôi khùng điên đến mức nào! Mà có thể do từ lý tính bất khả đó mà sau này anh Bùi Giáng đã trở thành người thân với tôi.
          Bây giờ tôi sẽ thuật lại tiếp tục khi tôi xuống núi lần đầu. Qua câu chuyện biến cố ở Nhất Nguyên tôi rời bỏ Đạo tràng Nhất Nguyên. Tôi cũng rời bỏ Tân Lại và Cù lao phố ở cầu ghành. Ra khỏi cù lao có hai con đường. Một đường đi bằng đò từ bến đò Long Kiển qua Tân Mai, một đường theo lộ lớn giữa hai bên đồng ruộng lên hướng chợ Đồn là ngã tư lên Thủ Đức, vào Dĩ An, ra Tân Vạn xuống Biên Hòa. Tôi đi bộ theo lộ lớn này đến khoảng giữa hai cái cầu lớn đó là đầu cầu ghành. Vừa đến đó, tôi nhìn thấy một cái nhà mà giống như chùa, một cái chùa mà giống như nhà. Tôi bước lên mấy bậc cấp gặp một ông thầy mập mạp, hiền lành, mắt đeo kính cận nặng đang chăm chú làm đồ mã. Đó là thầy Phước Lâm. Thầy vui vẻ chào hỏi tôi và mời tôi ăn cơm chiều. Thầy bảo tôi bây giờ thầy không đi giảng nữa, không ở thất dưới nữa thì đi “làm Trụ Trì” đi. Tôi nói đâu có chùa mà làm Trụ Trì. Thầy Phước Lâm bảo: “Tôi sẽ giới thiệu thầy và dẫn thầy tới đó. Chùa này thanh tịnh lắm mà không có ai trụ hết”. Trong ý tôi không được quyết định lắm, nhưngtôi nghe theo lời thầy. Thầy bảo: “ Cứ ở đây chơi sáng mai tôi dẫn thầy đi.
        Sáng hôm sau, thầy Phước Lâm dẫn tôi đến một ngôi chùa không lớn lắm, nhưng thanh tịnh và rất yên lặng ở giữa một cánh đồng. Xung quanh có trồng cây bóng mát, cũng giống như chùa thầy Nhật Liên ở Đồng Đế, Trà Ôn mà trước đây tôi đến ở để Tu Niệm Phật. Trong lòng tôi thấy thích và nghĩ: Ở đây không ai biết, mình sẽ bắt đầu tu lại. Như bạn biết trong tôi việc hạ thủ công phu là quan trọng hàng đầu. Muốn tu phải ở nơi thật thanh vắng ( như chỗ này) không ai lui tới làm tác động xen vào. Khi mình đang công phu, nếu có một người bên mình tức thời “cái biết sinh lên” màn yên lặng trong tâm mình như có thêm một sự thật. Người xung quanh tĩnh hay động, làm việc gì mình đều biết việc đó. Dù thanh tịnh, dù cử động ồn náo thì tâm mình cũng sẽ động đậy, co bóp lên xuống… Tịch lặng trong tâm chưa tận nguồn ta sẽ dao động ngay. Vì hành động thì thức sanh;  thức sanh thì danh, sắc, lục nhập, ái thủ hữu cùng dính nhau như những toa tàu liên tục giáp vòng không bao giờ dứt được. Vì vậy nên không trách được vô số vị nhập thất chuyên tu mà  rất ít ai phát minh được Tâm Địa. Đến Dự lưu cũng không thực hành được. Cho đến cả Dự lưu hướng hay Túy Pháp Hành cũng không vào được. Nếu muốn thì phải ở những nơi thanh vắng như thế này. Thầy Phước Lâm hỏi: 
      _ “Sao? Thầy thấy chùa này hợp không?”
      _ “Được lắm”, tôi nói.
      _ “Ở đây có ruộng, thầy khỏi lo, còn có ban hộ tự nữa”.
      _ “Tốt lắm nhưng đừng có ai đến thường quá”, tôi nói.
               Thầy Phước Lâm lại nói:
      _ Thầy chịu trụ trì ở đây thì người ta sẽ “Cưới vợ cho thầy đấy”.
               Tôi lạ lùng hỏi:
      _ “Thầy nói sao? Ban hộ tự cưới vợ cho thầy?”.
       Lần đầu tiên từ khi đi tu đến giờ tôi mới nghe từ miệng một ông Thầy chững chạc nói ra một câu kì dị, vừa nghịch lý, vừa nghịch hành như vậy.
     _ “Nếu không cưới vợ cho thầy, thầy bỏ đi làm sao?”
     _ “Tu thì làm sao có vợ được.”
       Thầy Phước Lâm nói: “Bên tôi là vậy đó! Đừng có lôi thôi, đừng làm bộ không bền đâu.( Sau này tôi mới biết thầy Phước Lâm chánh thống là Lục Hòa, một Phái tu rất thật và cũng lâu đời ở Việt Nam). Sau giải phóng, tôi cũng được nghe một Thượng tọa Trí thức cấp cao cho biết là ở Nhật Bản Tân phái đều có vợ và họ cũng rất thành công, đọc “Kim Cát tự” như dòng mũ đỏ: Marpa của Tây Tạng cũng thế. Lúc đó ý tôi cực kì phản kháng, tâm bất mãn nhưng tôi không nói ra. Tôi nghĩ nghe “tiếng âm” của sư Kiên còn dễ chịu hơn nghe thấy này nói. Tôi muốn xô mạnh thầy một cái cho té ngửa rồi bỏ chạy, nhưng tôi tự kìm lại không hành động được. Tôi nghĩ, đằng nào thầy Phước Lâm cũng là người tốt. Thầy muốn giúp đỡ cho mình, nếu vì giáo điều, ý thức hệ mà sanh thù nghịch, sân, si thì cũng thành tệ hại. Tôi yên lặng rồi nói:
        _ “Thôi về đi thầy!”
        Tối đó tôi không ngủ ở chùa của thầy Phước Lâm mà tôi ghé qua cốc của sư Viên Thông. Sư Viên Thông đã từng gò cho tôi một cái bình bát bằng nhôm rất kỹ thuật (đến bây giờ vẫn còn), lâu lâu tôi cũng đi đầu đà. Sư Viên Thông thuộc loại Khất sĩ Độc giác. Sư xin được vải vụn đủ màu ở tiệm may rồi về tự ráp nối thật khéo thành một cái y thượng ( y lam) vừa đi đầu đà mà vừa để làm mền đắp ngủ. Hằng ngày sư đi kèm tiếng Anh để có đủ tiêu chuẩn cho mỗi tháng 10 kí gạo lức muối mè. Tôi tặng cho sư mấy bộ từ điển Hán - Anh và mấy cuốn sách của Hermann Hesse Goethe, Shakespeare, nhất là những “giải mã” về Krishnamuti. Sư biết tôi quen biết sư Huệ Hải, Nguyễn Văn Thuyết, Phạm Công Thiện nên sư thường hỏi thăm về những người đó. Sư Viên Thông rất có năng khiếu về Thẩm mỹ học và có nghệ thuật sống. Sư tự chế may cho mình một kiểu đồ mặc để đi ra ngoài rất đẹp như đồ nhu đạo màu trái măng cụt. Tràng nhỏ rất ôm chạy xéo xuống gần lưng quần có nịt thắt bằng vải rất gọn gàng. Mỗi lần sư đi dạy thì mặc đồ này. Sư là huynh đệ một thầy với Diệu An, cô ni nhà quý tộc mà tôi có nói đến ở đoạn trước (ở Bạch Vân Am). (Rất tiếc là Phật giáo không hết lòng tìm kiếm những năng khiếu tài ba như vậy). Cốc sư cất sát bên bờ sông Đồng Nai, ( cách bờ chừng 3, 4 thước) tôi nằm lặng yên nghe tiếng nước vỗ vào bờ đất lỡ… Tiếng gió vi vút trên mặt nước lóng lánh, vàng vọt ánh trăng khuya. Thỉnh thoảng lại có tiếng nước vỗ vào mạn thuyền, cùng tiếng chèo bơi nhẹ trên sông. Thấy chưa buồn ngủ, tôi ngồi dậy, đi mấy bước đến một gốc cây to trên bờ sông. Ngồi dựa vào gốc cây nhìn ra, tôi thấy những đám lục bình đang bị dòng nước mênh mông cuốn trôi về nơi vô định. Tôi nhìn kỹ thấy từng cụm lục bình to nhỏ không đều, trước sau lẫn lộn nhưng chúng cùng nằm trên một mặt phẳng của làn nước đang chảy nhanh. Tôi liên tưởng mình là một cọng lục bình nhỏ bé, đang trôi ngoài kia, mình cũng không cô đơn. Bao nhiêu đám lục bình to nhỏ, đều không tự dừng lại được, mà chính dòng nước kia cũng liên tục bị xóa đi. Mặt sông bỗng sáng lên trong trẻo, chiếc màn mây bị gió đuổi về phương bắc. Trăng vàng rực rỡ, đáng yêu như tiểu thư đôi tám, vừa ra khỏi lâu đài tăm tối cũng vội vã rượt đuổi trên từng không, song song với hàng trăm ngàn cánh lục bình phía dưới, đang tháo chạy dày đạp lên nhau đi về nơi mờ mịt. Dường như có một máy động xúc cảm trong lòng, tôi bỗng ngâm lên nho nhỏ mấy vần thơ:
“Mây trôi theo gió lợt hình
Trăng trôi theo đám lục bình giữa sông
Tôi về giữ Đạo Chơn Không
Mai này thoát khỏi lòng vòng ngược xuôi”
                 Tôi tự thấy bằng lòng với “ý niệm” Đạo Chơn Không ở mình vì nó không thể bị đâm thủng bởi những cây đòn xóc, hai đầu có, không, xuôi ngược.


 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ ba - 27/06/2017 00:05   Đã xem: 4
 Từ khóa: Lòng thong thả

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những bài mới hơn

Những bài cũ hơn

Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây