Lên Đỉnh Bao Quang

Rồi một đêm tôi nằm mộng thấy linh-ảnh như một sự bất thường như sau, Tôi thấy : Trong thất mình đang ở bỗng nhiên có nhiều cây tre mọc lên chổi với nóc. Nền nhà thì tụt xuống như một hố sâu hun hút có tiếng nước chảy ở dưới đáng sợ.! lại thấy ai đó đem đến cho tôi những tờ “báo” mà tôi đọc thấy không vui. Sau cùng tôi thấy mình đến ở trong
Rồi một đêm tôi nằm mộng thấy linh-ảnh như một sự bất thường như sau, Tôi thấy : Trong thất mình đang ở bỗng nhiên có nhiều cây tre mọc lên chổi với nóc. Nền nhà thì tụt xuống như một hố sâu hun hút có tiếng nước chảy ở dưới đáng sợ.! lại thấy ai đó đem đến cho tôi những tờ “báo” mà tôi đọc thấy không vui. Sau cùng tôi thấy mình đến ở trong một vùng núi xa lạ, một hòn núi lớn có đầu như đầu voi, tôi cũng thấy mình bay lên cao muốn ra khỏi vùng núi nầy mà không được : Tôi bay về phía trước có biển lớn mù mịt, tôi thấy bất an bay vào bay ra phía sau thấy một hòn núi như hình yên-ngực, tôi không vượt khỏi được, tôi vào trung tâm ở lại đó (nơi mà tôi đang ngồi viết đây) Tôi tỉnh giấc ngồi xét lại và biết rằng : mình sắp bị quả báo. Nơi đây phải sụp đỗ và đi đến một vùng núi non nào đó (vùng núi nầy rõ như trong mộng đã thấy : đỉnh trước bao quanh như đầu một con voi, phía sau có núi Yên-Ngựa và phía trước là biển Vũng Tàu v.v..)
    ( Tôi xin được tóm lược về vấn đề để bạn đọc rõ là : Hồi có một cô tu khoảng 22-23 tuổi đến và nói quen biết với những người thân Trong cốc tôi, cô ta ở lại đó, lãnh thuốc “Hà-Thủ-Ô” do tôi chế biến để đi bán. Cô bán xong lấy tất cả tiền xài và đồ phụ tùng ... Lần thứ hai cô ấy lại trở lại, tôi không trách móc gì cô rồi cô ở lại đó. Tôi có việc gấp (ba mất) phải đi Buôn Mê Thuộc một tuần lễ, cô ở nhà “dọn sạch” hết đồ đạt trong Thất của tôi. Sau đó ít lâu tôi gặp cô ở bến xe Miền Đông, tôi nói : cô dọn sạch nhà cửa của tôi, tôi đã báo cáo, bây giờ cô nên trở về lại chổ của tôi để người ở biết đây là sự thật. Nếu cô xin lỗi thì tôi sẽ tha cho cô, và cô ấy nghe lời tôi và trở lại nơi tôi đang ở. Lúc báo cáo nhà bị ăn trộm dọn hết đồ thì ông thôn trưởng ở đó có nói, khi nào thầy bắt được thì cứ giữ lại đó đợi tôi. Khi đó thất tôi tuy không còn đồ đạt gì qúy nữa, nhưng nếu để cô một mình cô sẽ trốn mất, tôi nói với cô : không có tôi thì cô chạy mất, không ai giữ cô được nên tôi tạm thời cột cái tay cô lại cô ở đây, tôi xuống dưới nhà ông thôn trưởng chút nữa tôi về mở ra cho cô. Và tôi xích lõng cô lại ở đó.
    Khi tôi đi báo cáo với ông thôn trưởng, ông nói thầy cứ giữ nó lại đừng cho nó trốn để rồi tôi xử ... Khoảng hai giờ sau trở lại thì cô ăn trộm không có đó nữa. Rồi bỗng nhiên có giấy an ninh ấp mời tôi ra thôn, tôi ra ngoài ấp ngồi chờ hơn hai giờ đồng hồ, an ninh thôn mới đến và họ bắt đầu “hỏi cung tôi”, cùng với một đơn thưa của một người học trò. Họ hỏi cung tôi với những lời lẽ thật kinh khủng từ 7 giờ tối cho đến 6 giờ sáng! Tôi từ Sài Gòn về cả ngày chưa ăn gì, đêm nay lại chịu đựng quá sức tôi gần muốn xỉu. Sáng hôm sau một số người áp giải tôi lên xã phải đi bộ đến 4, 5 cây số. Trưa hôm đó tôi gặp một ông ở xã tôi, thấy tác phong ông rất lương thiện nên tôi nói : anh hãy xem kỹ lại việc nầy và giúp giùm tôi ! ông nhìn tôi và nói; không có gì đâu, thầy yên tâm đi. Tôi thấy như ông đã rõ vấn đề và có ý tốt. Tôi không lo lắng gì, nhưng dường như có sự trao đổi gì đó giữa thôn và xã, họ không xử ở đây và xế hôm đó đưa tôi lên Huyện (hai ngày tôi chưa ăn uống gì cả). Khi lên Huyện cũng có cả cô dọn nhà và cô học trò thưa tôi ! họ rất nhàn và tự do đi lại.
    Lúc ở Huyện cô ăn trộm hỏi tôi :
     Thầy có ghét con không ! 
    Tôi nói, cơn cớ gì mà ghét ! 
    Cô lại hỏi : Thầy có thương con không ?
    Tôi nói : Thương !
    Cô nói : Thầy không có gì đâu! Sao trong đạo và đệ tử gì lại ác dữ vậy !
    Tôi chỉ cười. Lúc đó tôi lại có ý nghĩ : Cô này dọn sạch cả nhà mình nhưng không có ác tâm, ác ý bản chất nầy đã vượt hẳn số người tu rồi.
    Cán bộ ở Huyện rất tử tế, tôi không hiểu nhiều về luật pháp và hành chánh, nhưng qua cảm giác tôi biết họ đứng đắng. Hai anh cán bộ ở huyện khi nói chuyện với chúng tôi làm tôi không có ấn tượng tiêu-cực.
    Khi hỏi chuyện, một anh hỏi ai làm cô mang bầu ? Tôi giật mình nhìn qua bụng của cô thấy dường như hơi lớn ! Tôi lắng nghe thử cô nầy nói ai và cô đã trả lời rõ ràng rằng cô đã “ở với một người ở Sài Gòn” ! Anh cán bộ lại hỏi : Không phải ông nầy chứ (chỉ tôi) ? Cô cười và nói làm gì có chuyện đó ! Thầy là người rất tốt đấy.
    Sau đó, tôi được trả tự do. (Đoạn trước tôi có nói viết phần Trắng mà không viết phần Đen ! Nhưng câu chuyện này Đen, Trắng lẫn lộn và có điểm ta cần biết rõ sẽ có lợi cho Thiện pháp).
    Xin được nêu những điểm nảy sinh trái ngược trong câu chuyện.
    1/ Tôi là người bắt được trộm, thì chính tôi “bị bắt”.
    2/ An ninh Ấp không áp giải và hỏi cung kẻ trộm mà áp cung người bị hại.
    3/ Nếu cấp Huyện không quan minh thì chắc tôi phải bị oan. Nếu cô ăn trộm có tâm tà vạy lại vu khống thì tôi phải bị rắc rối hơn nhiều. Nhưng ngược lại ta thấy rõ người trộm cắp vẫn không mất lòng chân chính, từ tâm.
    4/ Nhờ nhân quả tốt (hoặc được thức tỉnh qua những câu chuyện như trên) mà cô cắp trộm đó “ Đã đi xuất gia” (tôi đã gặp cô mấy năm sau ôm bát trì bình rất nghiêm túc ở Sài Gòn).
    5/ Nhờ nghịch sự, nghịch hành như thế mà tôi lại được “Tiến-hóa thêm” và có cơ hội lên Núi Bao Quang và Phong La Động được kết quả lớn lợi ích không lường.
    Khi về lại Phù Vân Cốc tôi yên lặng, đóng cửa trầm tư, tôi xé một tờ lịch của ngày tôi gặp sư cô trên tờ lịch đề ngày 4 tháng 3 (24 năm Bính Dần) và tôi đề lên một bài thơ ở phía sau tờ lịch như vầy.
“ Ngày này mồng 4 tháng 3
    8 giờ rưỡi sáng hình sa lưới chằng
Rõ ràng cái mặt chằn tinh
Mà sao Bồ Tát thấy mình trơ trơ
Chơi vơi ngất đỉnh mây mù
Màu trời tỉnh lặng ngàn thu thế trần
Rõ đời ảo mộng Phù vân
Biết giờ đã điểm Tiễu Ngân hồi còi.
“Cất mình ngất lạnh đường voi
Kìa trời xanh thẳm mà soi rõ ràng
    Như ký ức của tôi chưa bị xóa mờ như bài thơ trên nay đủ 20 năm. Bài thơ đó và tờ lịch vẫn còn như một kỷ niệm ở bên tôi (tờ lịch ngày 4/3 và bài thơ nét chữ hồi đó tôi đều đăng nguyên trong trang bên).
    Bài thơ trên hai câu đầu như một chứng tích lịch sử. Hai câu kế đối chữ : Chằng tinh và Bồ tát : Chằng tinh : Một bộ dạng có thể ăn nuốt cả người lương thiện; Bồ tát : Sự không giận dữ, trả thù hay ghét bỏ.
    Hai câu 5-6 là tâm trạng của người viết hồi đó (là như thế).
    Hai câu 7-8 nói lên sự tỉnh táo hơn, rõ ràng hơn “ Cỏi đời là mộng ảo” !
    Hai câu 9-10 kết lại quyết định được tính dự báo chính xác (lên đỉnh Núi đầu voi - Bao Quang - và thấy được màu trời xanh rỗng lặng).
    Thực ra trong lẽ tương đối và tình người : Tôi phải mang ân tất cả.
    Tôi còn nhớ một tác phẩm nào đó, một tác giả có trí tuệ lớn đã nói ra câu nầy “Tất cả chúng ta đang sống trong thế giới Giác Quan, các cái ngã của chúng ta đang đánh nhau và chúng ta quan hệ với nhau bằng năng lực Bất-Tịnh !”.
    Và trong “Nghệ thuật cuộc sống!” (The Art of Living) SN GoEMKA-Will Am Hart có đoạn viết thế này.Thay vì tự mình chịu những cảm giác khổ đau, chúng ta lại chia sẻ cảm giác bất hạnh đó với mọi người. Không khí quanh người không hạnh phúc trở nên nguyên nhân của sự khích động, bối rối khiến những ai vào trong môi trường ấy cũng có thể cảm thấy lo âu bối rối và không hạnh phúc. Trong cách thức như vậy sự căng thẳng từng cá nhân kết hợp thành sự căng thẳng của xã hội. Đây là vấn đề căn bản của cuộc sống. Bản chất không thỏa mãn của nó. Những gì chúng ta không muốn lại đến, những gì chúng ta ao ước thì không đến. Và chúng ta thường mù mịt không biết tại sao và thế nào tiến trình nầy xảy ra. Thật đúng là chúng ta mê mờ về cái bắt đầu và chấm dứt của chính mình.
Bản dịch TT Chánh Hạnh.
    Đoạn văn trên có giá trị lớn cho từng cá nhân của chúng ta mà cũng giá trị tổng thể cho cả hành tinh đang rực cháy hiện nay mà cả gia đình địa cầu chúng ta đang trú ngụ. Hãy đọc đi, đọc lại nhiều lần !. 
    Sau vụ đó Phù Vân Cốc tiêu điều tan tác. Những người trú và khách vãng lai đều nương gió và dạt xa tất cả đúng như câu thơ “Mây của trời rồi gió sẽ mang đi” 15 năm trên tảng đá giữa đồi rừng hoang vắng nầy, từ ngày tôi dựng ngôi chòi Phù Vân, những con chim lạ lộng lẫy sắc màu đã đến nơi đây bây giờ còn là ký ức. Con rắn lớn một lần trong đêm khuya đã đến trả giá cùng tôi, bây giờ quê-hương tôi sẽ trả về cho nó.
    Cũng như ngày mới đến, tôi không có dự tính trước để làm cốc hay ở đâu bây giờ tôi cũng không biết mình sẽ đi đâu và ở đâu.
    Tôi đi ra đường một mình không hành lý, trừ trong tâm tôi còn duy trì dòng Đà-ra-ni Ana lệ Tỳ-ma lệ niết ma lệ mông già lệ hê ma la nhã kiệt tỳ tam mạn đa bạc đề lệ, ta đà ra đà ta đàn ni, ma na tư a chuyết đề tỳ la kỳ, am ma lại đàm bà tát na, tá lệ, phú la nê, phú la ma na nô lại đệ ... tôi cho dòng âm thanh Đà-ra-ni đó chạy khắp trong người tôi như dòng máu vận hành lên xuống trong các kinh lạc thái dương  và thiếu âm.
    Tôi nghe biết rất rõ những động âm từ thức biến đó và khoảng hư vô lặng tĩnh trong lòng mình. Khi chiếc xe đò lớn từ Đà Lạt về Sài Gòn dừng lại ngang tôi, tôi lách mình bước lên qua cửa hẹp ở phía trước, lưng tôi chạm lướt qua một người tôi nghe rõ hai vật thể chạm vào nhau tiếng cọ xác mạnh làm thân tôi lệch hướng nhưng xúc giác đó không chấn lọt được vào dòng âm của Đà-ra-ni trong tôi đang trôi chảy.
    Ngồi yên trong xe tôi có thấy một nỗi buồn nhè nhẹ trong lòng mình giống như cảm giác luyến lưu một một quê hương sắp bỏ, tôi không thích kéo dài tâm cảm đó liền nghĩ ra một “trò chơi mới lạ” : Mình sẽ chuyển tiếng động ồn ào của xe nầy thành “ âm thanh Đà-ra-ni” và tôi cảm như chiếc xe to lớn nầy là thân tôi mà tiếng động của nó là Đà-la-ni A-ma-lệ”.
    Xe dừng ở Bình Triệu bến xe Miền Đông. Quả thực là tôi chưa biết mình đi đâu. Tôi vào nhà-bán-vé của bến xe rộng lớn này. Mướn một bức chiếu nhỏ trãi ra rồi nằm xuống chơi, nhìn người qua lại (nhà bán vé rộng nhưng người đợi để mua vé rất đông) tôi thấy một ông sư mặc y vàng đi tới đi lui mắt dòm dỏ như đi tìm một ai đó. Tôi ngồi dậy để nhìn cho rõ (ông sư vừa đi khuất ). Tôi bó gối ngồi yên lặng, ông sư trở lại. Người dong dỏng cao khoảng chừng 35, 37 tuổi. Ông sư nhìn thấy tôi liền đi lại gần và ngồi xuống nói chuyện với tôi. Qua lại chuyện đạo một hồi thì ông gọi tôi là “Minh-Sư”. 
    Tôi hỏi sư ở đâu ? 
    Ông bảo Lái-Thiêu. 
    Ông lại nói con-trò có một ngôi Tam-Bảo ở Núi Dinh nếu Minh-Sư chịu nhận thì con trò cúng cho Minh-Sư. 
    Tôi nói : Sư dẫn tôi đi xuống đó coi thử
    Ông nói : Đi nhưng mà con trò không có tiền xe đâu !
    Tôi bảo : Được rồi, sư cứ dẫn đi tôi sẽ trả hết tiền xe cho sư (Sư tên là Thiện-Huệ hay Giác-Huệ gì đó) thế là tôi và Sư cùng lên xe đi Long-Thành Bà Rịa đến Phước Hòa (Hội Bài) chúng tôi xuống xe đi vào núi cùng một dãy Núi Dinh mà tôi đã lên và xuống cách đây hai mươi mấy năm nhưng khác vị trí) lúc đó đường đi còn gập ghềnh nhiều. Sau môt cuộc lội bộ chừng 5,6 cây số đường vắng tanh chúng tôi đã đến nơi. Người lâu năm ở vùng gần gọi đây là “Chèo Chèo”. Ông sư dẫn tôi vào một miếng đất xung quanh đầy cỏ tranh chưa dọn sạch khoảng độ 2 ngàn mét vuôn có một ngôi chòi bằng cây, lợp tranh chưa kín vách, chỉ và nói với tôi : Ngôi “ Tam-Bảo” của trò đấy, dâng cho Minh-Sư ở tu! Lúc đó có một ông già độ chừng 60, ngoài tuổi thể hình rám nắng, cứng cỏi, nét mặt phong trần xa xứ. Sư bảo tôi đây là “ông Hai” người Miền Tây mới đến.
    Thưa các bạn, sự khởi đầu vào núi rừng của tôi lần này bắt đầu là như thế, lần đầu nhờ ông Tư, một nhà sư Núi đệ-tử Mẫu-trầu đưa đường vào tháng giêng năm 1963. Lần này là Sư Phước Huệ đệ tử phái khất sĩ vào tháng 12 năm 1985. 
    Người ta nói khi bước lên tàu ai cũng có sự vui tươi và hy vọng  nhưng sóng gió thì không lường vì mặt biển là khởi đầu vô lượng. Đức Khổng Tử cũng đã khởi ý sâu mà dạy rằng : Người khổ chí, đói khát, thất bại, khốn cùng ... rồi ra mới thành người hiểu biết “Lời dạy của lão tử lại còn kỳ bí hơn” : “ Hoặc sinh nhi tri chi, hoặc học nhi tri chi, hoặc khốn nhi tri chi cập kỳ tri chi chí giả (hoặc sanh ra mà biết đó hoặc học rồi biết đo, hoặc khốn cùng rồi mớ biết đó” Nhưng khi biết rồi thì ba hạng đồng nhau. Tôi đọc nho giáo và lão tử nay đã quá lâu, tôi chỉ biết theo chút ký ức còn sót lại, có thể có sơ sót chăng ? Nhưng theo chỗ nhận định của tôi thì cái “biết” ở đây không hẳn là kiến-thức vụn vặt  hay là tri thức mà “biết” ở đây là “CHÂN TRI”. CHÂN TRI  là cái “biết” vô ngã bình đẳng trong tất cả thánh phàm, người vật.
    Cách đây hai hôm tôi đứng nói chuyện với một con rắn hổ mang, nó là một trong hai con rắn khá lớn thường lui tới quanh nơi tôi ở. Tôi gặp nó vừa đi tới một bờ đá sau nhà, thoáng thấy tôi nó cũng sợ nên chui vào một hốc đá và đưa cái đầu ra ngoài nhìn tôi. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt nhỏ của nó và nói “Con không cần phải sợ thầy” sợ và sân đều là tâm tham cả. Sân và độc làm cho người sợ. Thầy không đánh giết con. Con hãy bỏ tất cả tâm (nghi). Quả nhiên con rắn hổ mang đen nhánh nghe tôi nói nó yên lặng nhìn tôi, tôi thấy dấu hiệu là nó hiểu. “Tôi thấy” “CÁI BIẾT” trong nó lặng lẽ hiện tiền như tất cả cái biết của Người và vật ở mọi nơi. Bỗng con chó lớn của tôi vừa đi tới, đầu nó liền thụt vào trong. Nó phân biệt được “cái không lành” (chó và hổ mang ở đây đã từng đánh nhay nhiều lần). Con chó chưa làm gì nó (vì có tôi ở đây) nhưng nó “Hiểu”.  
    Tôi dùng mẫu chuyện mới nhất đã xảy ra trong khi tôi đang viết tập tiến trình này “để tặng bạn” bạn có rõ ràng được không ? Chỉ cần một dữ kiện trong câu chuyện này nếu bạn lãnh hội được thì đã quá đủ rồi ! Tôi muốn nói về cái “biết”. Cái biết trong con rắn đó trong con chó, trong tôi, trong bạn trong tất cả phàm và thánh đều không khác. Xin bạn đừng coi thường lời nói nầy.
    Nếu bạn nhận được cái “Biết” đó thì không gì hơn nữa. Không có một thực tánh giác ngộ nào hơn nữa. Chúng ta có thể tôn trọng tất cả những người đi tìm con đường -KIẾN-TÁNH, một ngày nào họ đã nhận ra “Diện-mục” rồi thì  họ sẽ không còn nghi ngờ điều trên nữa.
    Tôi nói chuyện với con rắn đó nhiều lời lẽ hơn những điều vắn  tắc tôi nói ở trên, tôi nói với nó rằng : “nếu con hiểu những điều thầy nói đây, thì sau khi bỏ thân rắn nầy con có thể sanh làm người hay làm chư thiên. Con có tính giác mà con không nhận ra nó, Giác là tính bíết luôn không rời con. Vì có cái “Biết” đó mà con mới “Hiểu” được. Hiểu không phải là “Biết” vì hiểu là hiểu một “cái gì đó” tức là kinh nghiệm. Kinh nghiệm thành nhân và thọ quả.
    Con phải phát tâm quy y Tam-bảo và nghe danh hiệu Phật”. Không riêng con rắn nầy, tôi niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà và Quán-Thế-Âm Bồ-Tát cho nó nghe mà tôi vẫn thường niệm Phật cho nhiều sinh thú khách để tạo duyên lành và quả phúc mai sau cho chúng.
    Trở lạii hai lời dạy ở trên mà mà tôi đã viết dẫn lời của Đức Khổng Tử và Lão Tử rằng một con người trước khi thành tựu có thể là phải nhọc thân khổ chí, đói khát, khốn cùng, việc làm thất bại và khốn khổ (Lão Tử) rồi mới thành người (trí giả) được. Đây là trường hợp của tôi.
    Tôi không phải là kẻ thông minh, sinh ra tự mình “Biết” được. Tôi không phải có sở học đến nơi đến chốn (cùng lý tận tánh) mà “Biết” được. Quả thực tôi là người trải nghiệm gian truân, họa tai, khốn khổ rồi mới biết được. Rõ ràng như thời gian tôi về Núi nầy suốt cả mười năm đầu (1985 - 1995) phải chịu không biết bao nhiêu là “khổ nạn”. Tôi xin thuật tóm tắt chừng vài phần trăm (2%) thôi để tâm từ các bạn chia sẻ cùng tôi.
    Sau hôm Sư Phước-Huệ đưa tôi đến ngôi “Tam-Bảo” dưới chân núi thì ngày hôm sau Sư trở về lại Lái-Thiêu. Tôi ngủ ở ngôi chòi trên thửa đất còn hoang sơ đó một đêm. Ở đây tuy rất yên tĩnh nhưng lòng tôi dường như không hài lòng lắm, vì tôi biết tôi không có ý trụ ở đây. Ngày hôm sau có một vị Cư sĩ chân tu mời tôi lên phía trên triền núi ở đây có một cái Động-đá nhỏ (mà sau nầy tôi kêu là hang “Dạ-Vũ”). Hồi đó vùng núi nầy còn vắng vẻ hoang vu, lâu lắm mới có một vài người đi rừng đến chân núi. Tôi đi lần lên cao cho đến đỉnh núi vào ở tu nơi một Hang đá có tên là “Động-Phong-La” xung quanh Động Phong La cây cối um tùm trong hang còn ẩm thấp, có rất nhiều dơi, ban ngày chúng bám dày đặc trên nóc động bằng hai chân treo ngược đầu thòng xuống trong khoảng không như có hàng ngàn kẻ dạ hành cao thủ đang tập câu-liêm bộ để nghe ngóng phía dưới thăm do bí mật. Chiều tối thì chúng bay ra ào ạc từ trong động và ở bên ngoài. Phong La là vùng có nhiều khỉ, heo rừng và những loài thú khác. Trong hang không có phương tiện gì cả cho đến một bất chiếu hay một cái đèn đốt sáng. Ngày thì sáng và mây mù, tối thì bóng đêm trăng và sương rơi lộp độp. Khi ngủ tôi dùng hai cái bao bột mỳ nối lại trùm vào từ dưới lên cho khỏi rắn rít chui vào và dùng một khúc cây làm gối. Nóc Động Phong La không cao chỉ hơn một tầm người đứng chút ít thôi.
    Tôi thường nằm ngữa như tư thế buông-xả của Yoga, mắt nhìn thẳng lên nóc động, một mặt đá phẳng lạnh mơ hồ như không là gì cả.
    Lúc đầu nhìn lên nóc phẳng lỳ như thế, tôi có ý nghĩ như mình nằm trong một chiếc xà lan lộn ngược đang chìm dần vào lòng đại dương. Những tiếng động mơ hồ đâu đây và hình thù những loài thủy tộc từ đầu tôi lưu xuất không rõ là mơ hay thực ... có khi lại ngủ thiếp đi, không thời gian, mở mắt như một ngưng tỉnh, lặng yên vô vọng có lúc những hình ảnh từ xa xưa mà tôi không còn nhớ hoặc người hoặc cảnh tuông trào như chúng từ một hang kín phóng chạy ra. Không đến nỗi tôi mê muội theo đó nhưng tôi thường nghỉ : Đây là quá khứ cũng chính vì quen thuộc với lối tư duy lẫu làn mà cái từ, “QUÁ-KHỨ” như một chiếc phong-bì bít bùng tự che đi một thực kiến để nội dung hiển lộ. Đành mất một thời gian sau nữa.
    Tôi lại đi vào một vùng sâu hơn nữa mà tôi kêu là Rừng-Trúc-Tuyền. Trúc-Tuyền là một vùng có nhiều cây nứa và mạch-suối, một thung lũng có nước nổi thành đầm lầy, ba bên đều có núi. Tôi cất một ngôi chòi lá bằng tranh cây và ở tại đó một thời gian.
    Vì sao mà tôi lại có thể đi sâu vào những rừng núi hoang vu như thế ? Đó không hẳn là một dự tính, không phải là một sở thích. Đó là tâm trạng. Tâm bình sống cảnh bình, tâm chiến sống cảnh tranh. Tâm từ lương thiện cộng trú chư thiên. Tâm Sơ-Thiền sống nơi cõi trời sắc giới. Tâm tôi lặng thinh thì vào nơi Tịch-lặng. Tịch lặng của cảnh cũng là tịch lặng của tâm, khi hiểu được điều nầy thì cảnh tâm là một.
    Tôi ở đây một thời gian khá lâu cho đến khi tôi bị bệnh kiết lỵ và sốt, bởi lý do là việc ăn uống ở đây quá tối thiểu, dinh dưỡng quá đạm bạc thất thường, tâm thì an mà thân thì hỏng. Tôi lại trở ra xuống dưới vùng Hang Dạ Vũ, tôi nhờ thêm một vài người đi rừng dựng một ngôi nhà tương đối đường hoàn hơn những ngôi chòi trước, tôi bắt đầu trồng trọt một vài thứ cây trái, ra và thức ăn.
    Tôi cất nhà ở đây, cuộc sống trở lại bình thường hơn, tìm ra được nhiều mạch nước ngầm có mạch nước từ trong hang đá chảy ra rất tốt. Nơi có nước cuộc sống được phát triển, cây cối xanh tươi khởi sắc. Vùng đất lớn rộng ở đây, tôi là người khai khẩn để trồng và bảo quản nó, đầu tiên nên trở thành chủ rừng trước nhất ở vùng nầy. Cảnh quang bây giờ thoáng mát đường mòn dễ đi hơn trước nên thỉnh thoảng có một vài thầy leo lên đến đây để tham quan và thăm nơi tôi ở. Một vị Hòa-Thượng có uy tín mời tôi dạy khóa hạ, cho Chư  Tăng ở vùng nầy đó là khóa an cư kiết-hạ năm 1987 tại Tịnh Xá Ngọc Phương của Đại Đức Giác Ban.
    Ni-Sư-Bạch-Liên ở Chùa Bạch Liên Phật Tích Tòng Lâm cũng thỉnh cầu tôi dạy cho Ni chúng trong mùa hạ nầy. Dạy và học giáo lý là điều rất quan trọng, không phải như dạy và học ở cách trường phổ thông ngoài. Vì người dạy ít nhất là phải có kinh nghiệm bản thân, người học là tiếp thu kinh nghiệm đó. Như TỨ-NIỆM-XỨ là bốn pháp, Tịch-quán về thân, thọ, Tâm, Pháp. Nghĩa là Thân-Trên-Thân, Thọ-Trân-Thọ, Tâm-Trên-Tâm, Pháp-Trên-Pháp.
    Người tu đúng pháp có thể trong thời gian không lâu tự thấy sự thấu triệt nội tướng, ngoại tướng (hay vô tướng) yếu quyết là phải luôn Tĩnh-Giác- thế nào là “Tĩnh-Giác” như lời chánh văn đức Phật đã thuyết dạy các tỳ kheo ở Vesali trong rừng Ambapali. “Ở đây, nầy các tỳ kheo, tỳ kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tĩnh giác”. Khi  co cánh tay duỗi cánh tay đều tĩnh giác. Khi nhìn tới, khi nhìn lui đều tĩnh giác. Khi đắp y tăng già lê, khi mang bát, điều tĩnh giác. Khi ăn uống, nhai nếm đều tĩnh giác, khi đi tiểu tiện, đại tiện đều tĩnh giác. Khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng đều tĩnh giác nhưvậy, nầy các Tỳ kheo là Tỳ kheo tĩnh giác.
    Tĩnh giác là điều tiên quyết trong tất cả các pháp hành của Phật dạy, nhưng trước hết là ta có thật sự muốn tu không cái đã ! Ta có đạt được lòng tin bất động với Phật, với pháp, với tăng không? Nếu ta đã tin Phật mà ta còn tin một giáo chủ khác, tin một nhân vật linh thánh, thần thông của một tôn giáo khác là ta đã tự  phá vỡ nguyên lý của pháp y rồi. Trừ khi ta không tin giáo lý của Phật có thể làm ta giải thoát-tiêu trừ được các hạ phần kết-sử, hoại tận những thượng phần kiết sử thì ta mới chạy theo nghe lời thuyết giản bày vẽ của người khác. Điều nầy (nghe theo lời của người không quy y Phật Pháp Tăng) đưa đến sự bợn-nhơ của pháp đưa đến sự lờn lọt mất căn bản trong sự quy y pháp bảo. Nếu ta nhất trí (không dễ ... xem nhẹ) với một vị thầy có căn bản, ta không giữ lại trong lòng những “nghỉ-ngầm” không “chạy xa” khi thầy đổi khác .. thầy sẽ ứng giáo cho ta có được lòng tin bất động với Phật Đà, có lòng tin bất động với Tăng già; thầy chỉ cho ta con đường hạn-chế , chận đứng, giải trừ nhưng phi-nhân cách (giới) của môt đệ tử thụ trì Pháp. Chỉ chừng bốn căn bản nầy bất động là ta đã vào được “Dự-Lưu” nếu một Phật tử đã tinh tấn (trong trạch pháp) thì diệt trừ 5 thượng phần kiết sử, là điều có thể đạt được. Như thuốc đủ sự thí nghiệm, giám định có uy tín rồi thì người chấp hành dùng thuốc đó, có thể hết bịnh. Cũng vậy giáo-lý là thuốc có khả năng chữa-lành được tâm bệnh cho người thật lòng muốn dùng nó.
    Riêng tôi, lòng tin Chư-Phật như là một “tuyệt đối-tính” tôi có thể đốt thân mà cúng dường cho Phật. (nhất là Phật A-Di-Đà), từ lòng tin đó tôi thực hành pháp và quả nhiên lời thật không sai : Tôi phá trừ được “Thân-Kiến” vào tâm Dự lưu một cách an toàn và suông sẻ. Dự-Lưu là quả của Tu-Đà Hàn. Nhưng lạ thay, tôi chưa hề “khoanh vùng” cho tâm ấy, hoặc dùng “kính-lúp” để nhìn nó như nhìn một chiếc lông Rùa trong tự ngã. Đúng như lời Phật bảo :
    - Tu bồ đề ! Ư ý Vân Hà ? Tu Đà Hoàn Năng Tác Thị Niệm : Ngã Đắc Tu Đà Hoàn Quả Phủ.
    Tu Bồ Đề Ngôn : PHẤT DÃ THẾ TÔN ! HÀ DĨ CỐ ? TU ĐÀ HOÀN DANH VỊ NHẬP LƯU, NHI VÔ SỞ NHẬP, BẤT NHẬP SẮC, THINH, VƯƠNG, VỊ , XÚC, PHÁP, THỊ, DANH TU ĐÀ HOÀN”.
    Khi viết những dòng chữ nầy có thể tôi đi xa hơn chút ít, nhưng chắc chắn là không đi đâu hết, vì toàn bộ hư không nầy chỉ vừa được một bàn chân thôi.
    Làm sao chúng ta có thể hiểu được một câu nói? Vì một câu nói mà nhiều người cũng có thể nói, thí dụ tôi nói : “Thân-trên-Thân” ta phải hiểu như thế nào? “Thọ trên Thọ”, ta phải hiểu như thế nào ? và “Tâm trên Tâm” “Pháp trên Pháp”
    Tất cả chúng ta, tôi và các bạn cũng chỉ có một cái tâm thôi. Nhưng vì ta không hề biết về cái tâm đó, không nghe ai nói cho “đúng tên” của cái tâm đó và trước tiên vì mắt ta kém và không ai cho ta mượn một “kiếng soi” đủ kích cỡ, đủ chính xác để ta được một lần thấy qua bộ dạng của nó.
    Tất cả những gì xảy ra bên ngoài hay bên trong của ta, tất cả những gì phát sinh trên đầu chúng ta hay trong tim của ta. Tất cả đều là phát sinh, đều là khởi sinh, khởi chỉ là pháp khởi và diệt là pháp diệt. Rõ ràng là như thế nhưng không bao giờta thấy đúng như thế , trong kinh Lăng già cũng dạy rằng do “sự khác biệt giữa danh (Nama) cú (pada) và âm tiết (Vyanjana), mà người ngu, kẻ trí-sơ sĩa vào chúng giống như con voi bị sa sĩa trong bùn lầy (LG). Điều đó đã xảy ra khi ta nhìn vô văn-kinh tự-nghĩa nhưng không khác gì cái khởi sinh trong tâm ta bảo nó luôn biến gen và cọng-biến mãi mãi.
    Như khi ta thấy không phải là Thấy mà là thấy cái gì. Nghe không Tự -Tịnh là NGHE mà phải Nghe một điều gì. Cảm thọ không nguyên vẹn là cảm thọ mà phải cảm thọ ra sao. Cho đến giác tri không trong suốt là Giác  tri mà phải là Giác tri điều gì ?.
    Tôi còn nhớ trong Nikaya Đức Phật có chính thức nói cho một đệ tử như thế nầy : Nghe chỉ là cái NGHE, thấy chỉ là cái THẤY, thọ tưởng chỉ là “THỌ TƯỞNG” và giác tri chỉ là ‘GIÁC TRI” (bài kinh có lặp lại mấy lần theo văn cú nguyên thỉ) nếu người thấy đúng như vậy thì rằng không có đời nầy, không có đời sau, không có đời giữa, tức thời được giải thoát.
    Tôi đã lần dò thị-kiến theo văn kinh một thời gian lâu dài và quả nhiên có “Hiện-lượng” như thật.
    Tôi tin Tăng, Ni, Phật Tử cùng mọi người đều có đồng một khả năng như tôi và có thể còn ưu việt hơn. Nhưng khi muốn “thực địa“ vào những khóa hạ như dạy an cư ở Tĩnh Xá Ngọc Phương, Chùa Bạch Liên thì không truyền trì được dòng chảy của giáo lý, bởi lẽ thời gian, không gian cùng sự trình bày đều hạn chế và tâm của người nghe không chuẩn bị, không ý thức nên tất cả phương tiện (cả mục đích ) đều đi chệch hướng.
    Việc giảng dạy của tôi như một thiện cảm trong giáo lý và như một thiện tâm với người đồng đạo hơn là ý nghĩa của sự Hoằng pháp mà lắm lúc đã nhân danh. Năm 1988 tôi giảng về TÍN-TÂM-MINH ở Chùa Kim-Liên. Năm 1991 giảng về Tịnh-Độ tại Chùa Linh Sơn Cổ Tự Vũng Tàu do Hòa thượng Tịnh-Viêm mời thỉnh. Năm 1992 tôi dạy về Thanh-Tịnh-Đạo (VISUDDHJ MAGGA CỦA BUDDHA GHOSA) tại Tịnh Xá Ngọc Sơn Dinh và Tuyền pháp Niệm-Phật theo hơi thở.
    Một người đã thực sự Giác ngộ bản tâm rồi thì không nhân danh (hay đứng về) một cái gì cho mình cả. Ngay sự nhân danh mình là “MÔN PHÁI THIỀN” v,v. Người giác ngộ thấy tất cả là Phật-Pháp. Các vị tiền bối xứng danh lên các -pháp-môn có sai khác là tạo thành những dấu ấn trong tiến trình tu học. Trong dấu ấn có sự đậm nhạc cốt để khích lệ chuẩn xác những kiết sử phiền não còn lại đó mà thôi.
    Trước kia, chính tôi cũng tự cho là mình tu pháp môn nầy hay pháp môn nọ. Cũng từ “Nội công ngoại kích” mà tôi tự thấy mình là Giảng-Sư, pháp sư, Thiền Sư. Nhưng từ khi tôi “Rõ đạo” đến giờ thì ngay cả đến khi mình đang tu cũng không nghĩ là mình tu nữa. 
    Tôi không thấy một cái gì gọi là Thiền cả. Nhưng có người đến nói chuyện Thiền với tôi thì tôi biết là người ấy muốn nói gì. Tôi có thể dùng cùng danh Tự với người ấy, nhưng danh tự ấy không vì tôi mà “xuất xưởng”. Điều này chính lúc này tôi cũng thấy lạ lùng nhưng lâu ngày thì tôi biết vì sao mà mình nói được lên điều mình không nghĩ trước.
    Cái gọi là Phật sự như  luồng gió quả báo cứ mãi thổi tung tôi vào những “công-đoạn” hành nghề nghiểm nhiên là Dị-Thục.
    Năm 1992 tôi chủ trì, vận động, sắp xếp và tổ chức lễ quy y xuất gia cho trên 30 vị tại Tịnh Viện Bát Nhã thuộc xã Hội Bài và sau đó làm giáo thọ dạy luật đầu tiên ở đây.
    Năm 1995 hai khuôn hội ở xã Hòa Bình và Bàu Lâm lại thỉnh mời tôi làm cố vấn cho Chùa Bình Quang và Chùa Bảo Tích thuộc huyện Xuyên Mộc.
    Ngày mồng 8/11/1997 tôi lại tổ chức khóa niệm-Phật lần đầu tiên tại Chùa Bửu Thiên (Mỹ Xuân) (đạo Tràng Niệm Phật ) ở đây duy trì được sáu năm.
    Sau đó tôi lại khai mở Tịnh Nghiệp ở nhiều Chùa nữa như Huệ-Minh, Phước An, Vân Long (sư cô Hiểu Long Thành) và có thể tôi còn đi giảng một vài nơi nữa nhưng nói cho cùng đó không phải là trọng tâm hành đạo của tôi.
    Giã tỷ tôi có cơ hội thuyết pháp thường xuyên cho vài chục ngàn người ... nhưng sự  hoan hỷ đó không bằng tôi san-sẻ sự thật của tôi chỉ chừng nữa người thôi. Vì sự-thật đó không phải là ngôn-ngữ, sự thật đó không phải là kiến-thức. Sự thật đó không phải là kinh nghiệm. Bởi lẽ sự thật không phải là kinh nghiệm, kiến thức ...nên nó không thể là của tôi. Vì nếu nó là của tôi, nó sẽ cùng tôi đóng khung hay tan biến. Những điều như vậy không thể đến với bạn được.
    Tất cả chúng ta đều xúc động như nhau, đều có cảm giác như nhau. Tất cả chúng ta đều có tham vọng như nhau ... đều có thỏa mãn và bất mãn cho đến sự di oán phẫn hận. Nội thủ và tri ân. Tất cả 108 sự ưu phiền co giãn đó đều là hậu cần  kinh nghiệm, khái niệm và tri thức. Ngoài những thứ tạp nhạp đó ta còn gì ? Phải chăng một khoảng hư vô mờ mịt, một cỏi lòng đầy trống trãi “cô liêu” ... trong đó hâm hấp sự sợ hãi, ngũ vùi, rồi những con mơ triền miên hoảng loạn.. !
    Bạo động là năng lượng phân hủy. Sự chiếm hữu thuộc địa, con người và Giới tính đều là Nhân căn bản. Cái khởi nguyên không hề trở lại như bức tranh không còn tìm tác giả. Như cơn mơ mà người mộng đã quên rồi.
    Để kết thúc trong tiến trình hội ngộ chân lý của tập sách này, xin mời bạn cùng tôi hân hoan và trân trọng đọc lên ba bài kinh sâu thẳm như Đại dương mà vì lòng từ mẫn Đức Thế Tôn đã nói lên cho chúng ta những người muốn nếm nùi Trí-Huệ. Đoạn dức Luân Hồi :
BÀI THỨ I :
    “Cái gì có nương tựa cái ấy có giao động. Cái gì không nương tựa cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an. Có khinh an thời không có thiên về; không có thiên về thời không có đến đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh; Không có diệt và sanh thời không có đời nầy, không có đời sau, không có đời giữa “.
    Đây là sự đoạn tận khổ đau “KHUDDAKA NIKAYA”.

BÀI THỨ II.
    “ Nầy các Tỳ kheo, có xứ nầy (Ayatama) tại đấng không có đất, không có nước, không có lửa, khôn/g có gió, không có hư không vô biên xứ, không có thức vô biên xứ, không có vô sở hữu xứ; không có phi tưởng, phi phi tưởng xứ, không có đời nầy, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng và trời. Do vậy nầy tỳ kheo, ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên.
    Đây là sự đoạn tận khổ đau : Udana trong tiểu bộ kinh Khuddka Nikaya I
BÀI THỨ III :
    “ Nầy các Tỳ kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra. Thời ở đây không thể trình bày được sự xuất ly khởi sanh, khỏi  hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra.
    Do vì nầy các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra. Nên có thể trình bày được sự xuất lý khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra và Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa nầy.
    Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa nầy. Có cái sanh, hiện hữu- cái khởi lên làm ra hữu vi không thường hằng, tác thành ra già chết một ổ của bệnh hoạn, mỏng manh dòn dễ vỡ, nhờ đồ ăn nuôi dưỡng, nên mới được hiện hành vật ấy thật không đủ, để hoan hỷ ưa thích.
    Thật có cái xuất ly, ra khỏi được cái ấy. Thật có vượt lý luận, thường ngày không sanh khởi không có cái khởi lên, còn đường không cấu uế không đưa đến sầu muộn, loạn diệt  các pháp khổ:
Sự tịnh chỉ mọi hành
An lạc thật tối thượng
    Ba bài kinh đều từ văn bản tiếng Bà li (Pali test Society) và Devanaganri của viện Đại học Nalanđa do Hòa thượng Tiến sĩ Minh-Châu viện trưởng Đại học vạn hạnh và Viện cao đẳng Phật học VN Dịch ra Việt văn.
 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ ba - 27/06/2017 01:11   Đã xem: 30
 Từ khóa: Lên Đỉnh Bao Quang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những bài mới hơn

Những bài cũ hơn

Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây