Lên Đường

Khoảng 7 giờ sáng ngày 8 tháng giêng ông già gọn gàng với túi xách mang vai tay cầm thiền trượng đến đón Tôi ở trước ngõ Bạch Vân Am. Hành lý của Tôi thì có một y thất một bộ đồ và mấy tập sách. Tôi và Ông già cả hai lặng lẽ đi bộ ra Hàng Xanh Tôi nối bước
Khoảng 7 giờ sáng ngày 8 tháng giêng ông già gọn gàng với túi xách mang vai tay cầm thiền trượng đến đón Tôi ở trước ngõ Bạch Vân Am. Hành lý của Tôi thì có một y thất một bộ đồ và mấy tập sách. Tôi và Ông già cả hai lặng lẽ đi bộ ra Hàng Xanh Tôi nối bước trên con đường đi tới bước chân Tôi có lúc dẫm lên dấu chân của Ông già, Tôi nghĩ mình đi theo con đường của Ông, hay mình đi theo Ông? Con đường là nơi dẫm đạp cho mọi người qua lại, không có riêng ai, Ông cụ cũng không biết mình đi đâu.
    Mình thì đi Núi có phải mình thích Núi không hay thích niềm tĩnh lặng từ trên cao ấy và sở thích thì cũng có thể là con đường ngước chiều với hiện tại. Một con đường bôi xóa một cái gì đó Tôi nghĩ ngợi miên man trong tâm mà không hay là hai người đã tới bến.
    Thực ra hồi đó Tôi chưa định vị được địa danh của hướng nào. Ngồi trên xe mà tâm trạng Tôi trải dài hơn là thực tại, nghe người ngồi trên xe nói đây là “ngã ba Vũng Tàu” xe quẹo mặt xuống dốc 47 rồi ra hướng Long Thành. Xe còn chạy nữa chạy xa lắm khoảng 2 giờ sau mới nghe Ông già la lớn: ngừng lại đi ! hai người chúng tôi vội vàng xuống xe : Đây là cầu Rạch Váng đường vào Núi. Chúng tôi đi vô bên tay trái trên con đường đắp nhỏ lớn hơn một bờ ruộng. Hai bên đường liền lạc những ruộng cấy lúa, nhưng giờ có lẽ là mùa khô nên chỉ thấy toàn là gốc rạ đã cắt xong. Trước mắt là là một dãy núi chạy dài màu xanh dìu dịu dưới bầu trời trưa mà không nóng. Ở đây dường như có gió biển thổi vào giữa một không gian rộng rãi vừa đồng vừa núi nên khi Tôi đi vào đây người cảm thấy thoải mái .
    Sau một cái gì đã lặng tắt trước một cái gì chưa khởi sanh. Thời gian là hiện hữu không vật. Thời gian đó lặng hóa vào khoảng không rỗng trống thanh bình như bầu trời trưa nay trên đường đi vào núi nầy thì một diều mới lạ sẽ xảy ra. Điều mới lạ đó không phải là kinh nghiệm mà nó là một độc biến linh thiêng nó là sức khoẻ vĩnh viễn của linh hồn mà ta cùng tất cả mọi người luôn luôn cần đến nó.
    Đi một đoạn đường vào chừng trăm mét ông già dừng lại và nói với Tôi : “ Ông Thầy vái đi, vái đi thì mới gặp được”.
    Tôi hỏi : “ Vái gì, vái với ai ?
“Vái chư vị, vái “mẫu”. Ông bảo tiếp: “có người đi ba, bốn lần mà không gặp “mẫu”, người ta chí thành vậy mà còn không gặp, Ông phải vái mới được”. Tôi thấy lạ, đây là lần đầu tiên Tôi được người ta bảo cách vái van như vậy.
    Núi non là nơi thanh địa, nơi những người có lòng thoát tục tìm về. Trước hết là những người thanh cao ẩn dật, những người hiểu ra rằng cuộc đời là một mặt biển luôn nổi sóng, cuộc đời là những quán trọ bên dặm đường dài cát bụi. Tranh chấp và lộn xộn như những nhà ga những bến xe, tàu rộn khách, hoang vắng như quán chợ chiều tàn. Biết thế nên cao nhân đi về ở ẩn. Kế đó là hàng Lão học Tiên gia,Thanh văn Độc giác những người có thể nấu thuốc luyện đan. Những bậc có thể hiểu sâu lẽ duyên sinh trong hoàn vũ, đa phần l à đệ tử Phật, Học Tam Tông. Và hạng người thứ ba là người có nhiều tính năng ngưỡng vọng, những người có niềm tin khát vọng với cõi vô hình, thần tượng về nhân cách thần và những người linh năng trực giác. Ông cụ đang hướng dẫn Tôi đi vào núi đây là ngưới thứ ba. Lúc đó tâm Tôi thường niệm Đức Phật A Di Đà và trì thần chú Đại Bi.
    Từ ngoài lộ chính đi vô chừng 30 phút thì có một cái rẩy trồng đồ rau trái cho chùa “Mẫu” ở trên núi không khí rất thoáng mát an lành, nghe mấy cô Đạo nhỏ gọi một bà lớn tuổi mặc đồ vàng đầu cạo tóc bằng Má “Huỳnh Mai” là người coi ngó ở đây. Với Tôi lúc đó cái gì từ đây đến núi đều thấy lạ, như con chim non vừa rời khỏi ở giáo hội và học đường. Danh từ Má Tía (ông Tía là một Bà Cô) mà xưng gọi với dạng tướng trên hình thức tăng ni thật ngạc nhiên và khó hiểu (trên núi còn có nhiều Má  như “Má Ba”, “Má Năm”, “Má Bảy”  (Nguyễn Tấn Nghiệm) thật ra các “Má”  “Tía” nấy thật tốt chân tu và dể mến.
    Tôi và Ông già ngồi nghỉ trong một nhà trại đơn sơ của Bà Huỳnh Mai (do Mẫu đặt) một lúc rồi tiếp tục lên đường đi vào núi, nửa giờ sau Tôi đã đếm được những tảng đá to lớn, từng gốc cây cỗ thụ xanh rờn trên con đường uốn khúc đi lên cảnh bông lai đẹp đẽ (ở đây người ta gọi núi nầy là Bồng Lai) chẳng lâu trên con đường còn dẫn tới có một cây vú sữa lón thật mát mẻ đang đứng sừng sựng như sẵn sàng đón tiếp chúng tôi Ông già bảo: Đã đến nơi rồi ông Thầy ngồi đó nghỉ đi, ông cứ vái trong tâm thì Mẫu ở đó biết ngay, ông có đủ phước đức thì “Mẫu” gọi vào! Có lẻ nhiều người đã đến đây với lòng thành ngưỡng vọng bề trên ... có thể họ được an lành từ cái khởi đầu nơi cây vú sữa nầy...
    Như các bạn biết Tôi vốn là một con người lưu lảng, một nghệ sĩ tận tâm linh, một cậu bé đã thoát ly sự nương tựa gia đình, đã ngủ vùi trong những tập sách thế nhân và tùy hứng làm những bài thơ theo thị nhản. Ngồi nơi gốc vú sữa nầy tâm Tôi vừa thức dậy những vần thơ lạc điệu, tai vẫn nghe Ông già bảo vái van mà ý trí lại miên man cùng sự vật. Tôi lẩm nhẩm đọc:

Ngày xưa Từ Thức về đâu
Mà Bồng Lai cảnh một màu lặng thinh
Mây bay mãi mộng thanh bình ...
Và Lưu Trần Nguyễn  sự tình ai hay!?

Ông già ngồi trên tảng đá cách đó không xa, thấy Tôi lẩm nhẩm Ông rất bằng lòng và nói : Ông vái nhiều như vậy tốt lắm…! Chổ Tôi ngồi có lẽ là trung tâm sinh hoạt Đạo của Mẫu, chốc chốc lại có người đi qua đi lại phần nhiều là mấy cô cạo tóc mặc đồ màu đà giản dị áo vạt hò quần thì quần vải như người Miên, như thế mà màu vàng thì ta có thể gọi là Đạo Khất sĩ, nhưng ở đây hoàn toàn mặc màu nâu. Cùng nét mặt và quan khí “Đậm” màu tín ngưỡng nên nhìn ở đâu cũng thấy như rất linh thiêng và người ta sẽ có sự tưởng tượng  qua cãm xúc như là huyền bí ...
Cách chỗ Tôi đang ngồi bên mặt chừng 10 mét, cao hơn con đường có một nền nhà rộng rãi nối liền với nơi thờ phụng người ở đây gọi là Liên Huê.
Thời gian như ăn một bửa cơm không lâu, từ trong Liên Huê một cô tu khoảng chừng 22, 23 tuổi bước ra đến chổ Tôi chắp tay nói :”Mẫu” mời Thầy vô ! Tôi thong thả đứng lên và từ tốn đi vào... Liên Huê là một ngôi nhà dài rộng như một chiếc xà lan lợp mái có nhiều cửa chống nên rất thoáng, dưới nền tráng xi măng thật láng và đen .
Tôi theo chân cô tu nử trẻ, nhưng không phải vào Liên Huê mà vào từng cấp ở phía trên  tức điện chính thờ phụng của Đạo tràng Mẫu.
Trước Phật điện đã có 3 vị Sư mặc đồ vàng, những vị Sư nầy thuộc phái tịnh-độ-tông đang ngồi trang nghiêm yên lặng Tôi bước đến và ngồi phía trên một vị sư . Ngồi chưa được 5 phút bổng bên tai vọng lên 3 tiếng chuông lớn, tiếng chuông thật hối hả , boong, boong, boong ! Âm thanh ngắt quảng thúc hối dồn dập lạ thường...!
Tôi không giật mình nhưng quay lại, bổng thấy một người đàn ông  mình xương cao lớn với một cánh tay dựng đứng  và bàn tay to lớn vừa xoè ra vứ đẩy tới, bàn tay giựt mạnh như một phát chưởng, không gian như vừa chịu một cái lắc rung rinh rồi dừng lại.
Người đàn ông khoảng 42, 43 tuổi có đôi mày thật dài đen đậm bằng ba đường bút lông chấm mực tàu, trán không cao mà mủi thật dài và thẳng chia hai đôi mắt sáng ướt long lanh, nhóm tụ một cảm tính đậm đà như tình trong người Mẹ. Quả thật đó chính là “Mẹ Trầu”. Mẹ Trầu đưa tay chào chúng tôi như một biểu trưng của bề trên và sự có mặt an lành. Mẹ Trầu toàn thân Ông như một khối hút mạnh mẽ  vô cùng. Mẹ Trầu trong lúc nói chuyện luôn xoay người về phía Tôi, dường như Mẹ nói cho một mình Tôi nghe mà thôi. Mẹ nói chuyện không có một chủ đề  nào chính cả nhưng âm hưỡng của Mẹ Trầu thì rất dể thuyết phục lòng người, chiếc môi của Mẹ như quai xách uốn lượn dễ dàng trong lúc nói cười với sự cân đối và sắc diện dể coi làm cho người nghe cuốn hút, mà phần chính là thanh quản tốt khi phát khởi thanh âm thật dòn và mạnh mẽ  đó cũng là yếu tố chính của những người thành danh và dựng nghiệp. Ngồi phía sau Mẹ không xa lại có một Cô khoảng chừng 24, 25 tuổi với phong cách thật đơn giản của một người tu hành thanh đạm mà không quê. Cái dáng dấp của một nữ ni Thành phố thì không có trong cô nầy, bù lại một tĩnh lực trong tự chủ không sợ và quyết định thì rất rõ ràng. Nữ tu khổ người cân đối không sắc sảo bên ngoài, vẻ mặt có hơi xanh đôi mắt sáng trong khi cô ta hứơng về ai như có sức thẩm sâu thấu thủng tận lòng người nhất là giọng nói của Cô vừa như thăm hỏi vừa như xóa bỏ cả ý nghĩ  người nghe đó là tư chất thần bí một trong nhũng người có khả năng lảnh đạo là một kẻ bề trên ở đây của Đạo Mẫu là người ố hai ở Bồng Lai dinh cảnh : ÔNG LỤC
Ông Lục trước đây không lâu là nữ sinh của trường Gia Long ở Saigon, quê nhà ở Tân Ba xứ nầy đời sống dân dả chất phác, phần đông sống nghề làm ruộng, vườn nông nghiệp. Mẹ Trầu là người có mắt linh năng trực giác với tầm nhìn xa  rộng, thấy biết được cái đặc dị kỳ tài của một cô gái quê nghèo có thiên tư lảnh đạo. Mẹ Trầu biết thế nên sớm uốn những ngón tay cong cầm bút của một nữ sinh tay còn ướt mực trở thành ngón tay chỉ đường cho những người đi về bồng đảo đổi lại những ngón tay ân tình khi bàn tay đã thẳng như cây kim chỉ nam của vùng Tây phương Bồng đảo, m à bàn tay lại có thể xoè to giảng rộng như tấm ván lót đường thần thoại cho dự đồ của Mẹ và của cả phái Bồng đảo Tây phương.
    Trưa hôm đó Tôi, mấy vị Sư áo vàng cùng ăn cơm chung với những người lớn phái bên Nam trong một ngôi nhà dài, trong bửa cơm có 40, 50 người thọ thực đều ngồi xếp bằng dưới một nền tráng xi măng sạch sẽ. Ăn cơm xong ông già  dẫn tôi lên một cốc nhỏ phía trên để nghỉ ( và từ giây phút đó trở đi ông già đã dẫn tôi về núi đã trở thành người hầu cận cho Tôi), Ông  “Tư” tên ông già là một người thật thà tốt tính, Ông nói Mẹ “sắc lịnh” cho tôi theo hộ và giữ gìn cho ông Thầy.
    Tối hôm đó “Mẹ”  và  “ Ông Lục” đến nói chuyện với Tôi và hỏi tôi bao nhiêu tuổi trong gia đình là thứ mấy? Tôi nói tôi 23 tuổi thứ 6, mọi người đều cười... tôi hiểu ra rằng ông Lục là “Sáu” ở đây những người thân cũng kêu là “ông Sáu”! Ông Sáu và mẹ hỏi : Thầy có muốn đi núi không mai “Trầu” dẫn đi. Đó là đêm đầu tiên tôi ngủ trên núi, không gian yên lặng và mang một khí sắc thấm đậm sự tín ngưỡng tràn đầy. Hồi đó tôi chưa đủ mắt để nhìn được lằn ranh giữa tín ngưỡng và tín tâm. Cái gì làm cho người ta bị cuốn hút vào những màu sắc gọi là tôn giáo và khả năng nào làm cho con người có thể thoát ly được những ảo ảnh chập chờn của sắc, tâm, hiện tượng. Từ trước tôi là người ưa đổi thay trong cuộc sống, dù là nội tâm hay hình thức tôi rất dể chán những cái gì ngưng sựng. Tôi trăn trở mãi y như người nằm trên chiếc giường  hụt ngắn dù trong giấc ngủ đôi chân cũng không bao giờ co mãi, Ngày thì chân đi tối thì chân duổi. Thân phận con người như phải tĩnh lặng trong cái động, chứ đừng nghĩ cái vận hành  để thoát ly như là ta thừơng muốn.
    Tôi nằm lặng yên theo thói quen nghe ngóng những đồng vọng trong chính mình nghe ngóng cả hơi thở ra vào, cho đến khi chiếc mền đen quen thuộc mà không bao giờ thấy đến phủ trùm cái tĩnh biết để cùng nó lặng chìm vào cái bất tri tự  diễn của một riêng tư tự nội. Cho đến gần 4 giờ sáng  mắt tôi bừng mở giữa cái tịch lặng lần đầu ở đây cùng tiếng động êm đềm và bí mật. Sau khi súc miệng rửa mặt xong trở vào Tôi ngồi lặng yên bên chiếc đèn nhỏ tranh tối tranh sáng của ngôi chòi am. Ngôi am như chiếc phao nhỏ bé,  bềnh bồng giữa biển núi rừng cây xanh mà tôi không tưởng tượng được đâu là bờ là mé và tôi ngồi đây như đóm sáng bập bùng của một hòn than còn cháy sót, đỏ đượm của một loài cây cứng chắc .
    Ông Tư đem đến cho tôi một chén nước hơi nghi ngút và nói : “mời Thầy uống trà”, Tôi nhìn thấy khói trà nhè nhẹ bốc hương , một mùi hương dâng tặng vô tư khứu giác cùng vị giác của Tôi tiếp nhận, chén trà như tiếp nhận một cái Tôi không còn nữa. Ông Tư đứng phía sau yên lặng một mình như một người bảo bộc trung thành từ tổ tiên để lại . Hương trà lần lần cạn tắt như giòng suy tư ít ỏi trong tôi đã trở mình như bầu trời núi rừng sắp rạng đông. Sáng hôm đó tôi được Mẹ, ông Sáu và hai cô hầu đưa đi vào một rừng núi yên lặng hơn cách Liên Huê đạo tràng chừng 30 phút đường quanh dốc đá ở đây có hai cốc nhỏ,  mỗi cốc từ 13 đến 14 mét vuông đều dựng trên một thế đá gọn gàng như một trà thất ẩn thân của xứ Phù Tang hải đảo, đó là cốc của “Mẹ” và “ông Sáu”. Thỉnh  thoảng họ vào đây nghỉ ngơi tịnh dưỡng . Hai cốc cách nhau hơn mười mét, lúc đó tôi thấy thích ở đây dường như nó tách hẵn sự chung đụng với số đông người ở phía dưới , tôi nói : “chỗ này mát mẻ thanh tịnh quá” Ông Lục nói Thầy thích thì ở cái cốc của “Sáu” đây!.
    Tôi ở lại từ đó trong cái cốc trống trơn vô vật này. Trống trơn vì trong cốc không có một món vật gì cả. Chủ nhân của 2 cái cốc nầy quả nhiên có một nhân cách vượt ngoài cái tán loạn của thế nhân, con tim họ lần lựa theo những nhịp đập của núi rừng. Để rồi tiếng động của rừng sâu một ngày nào sẽ vang vọng tận cõi đời ưu phiền phản loạn. Mấy hôm sau ông Sáu đưa đến cho tôi 2 đạo đồng 14, 15 tuổi để hầu hạ  hay sai bảo  đó là Đạo Bi và Đạo Hằng : hai chú rất hiền lành nhanh nhẹn, tôi rất thích đi sâu vào trong rừng những hang và tảng đá để càng được thể nhập vào thiên nhiên sâu lắng. Thỉnh thoảng, ông Sáu lên thăm tôi cùng mấy cô hầu thị giả mang theo đồ ăn bánh kẹo nhang thơm và một lư đốt trầm,  rủ tôi cùng đi chơi. Tôi để hai đạo đồng ở lại cốc cùng mấy thầy trò của ông Sáu đi đến những cái hang hoặc những tảng đá bằng phẳng ở trên cao, ở trong rừng núi mênh mông như thế mà chúng tôi leo được lên những tảng đá nhô khỏi cây cối um tùm thì sẽ có một thú vị và thoáng đạt vô cùng. Khi Tôi và ông Sáu đã yên vị ổn định thoải mái rồi thì việc trước hết của mấy cô thị giả là đốt lên một nắm nhang thơm hay một ít trầm . Mùi của hương trầm khác hơn mùi thơm của hương dầu tục thế, nếu hương trầm đốt lên trong những đền thờ chùa miếu nó sẽ mang đến cho người chiêm lễ lòng thành và đậm mùi tín ngưỡng  nhưng đốt lên giữa cảnh thiên nhiên  giữa đỉnh núi non nầy thì nó sẽ phù trì tăng thượng cho người có tác nhân vi diệu một khoái cảm an nhiên vị thường và lạc trụ .
    Sáu Lục là một ni nhân thần cảm của Bàn-cổ- Sơn hồi ấy Cô ta thật có một phong cách đặc dị hơn người. Hồi chín mười tuổi tôi đã nhiều lần được theo ba tôi dự những buổi cầu Tiên trong những đêm trăng sáng hoặc trên lầu cao hoặc nơi thanh vắng những cảnh giới với khoảnh trời thoát ly,  những kinh nghiệm đời thường cuộc sống làm cho tâm hồn thăng hoa cùng thần Tiên. Cái cảm thu về thiên nhiên vạn đại giữa rừng không mênh mông kỳ diệu nếu chúng ta được cọng hưởng một lần thì suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Ông Sáu cả “Mẫu” cùng tôi thỉnh thoảng thường hay vào rừng như thế có khi ngủ đêm trên những tảng đá lớn giữa rừng . Cái đam mê hoang dã diệu kỳ như thế đã làm cho lòng tôi mờ nhạt , loãng tan những lối mòn quá khứ. Ở Bồng Lai “Núi Dinh” hồi đó Đạo tràng của Mẩu trầu và ông Lục rất đông người già, trẻ, lớn, bé đều có cả ước lượng trên cả trăm người . Một hôm tôi nói với ông Sáu : Thầy muốn tụng 7 ngày đêm kinh  “Dược Sư” , ông Sáu thưa với Mẫu và Mẫu bằng lòng. Vào một buổi chiều tôi xuống Liên Huê để sửa soạn, tối đó khai Kinh “Dược Sư” Mẹ cũng là người có tính hướng Tam bảo rất sâu xa Ông hoan hỷ và hộ trì cho tôi tụng kinh Dược Sư.
Từ ngày khai tụng Dược Sư tôi ở luôn Đạo tràng ít lên cốc trên nữa, mỗi bữa tôi dùng cơm chung với ông Sáu và Mẹ trầu . Trong Liên Huê đạo tràng chỉ có tôi và Mẹ là hai người nam duy nhất. Mấy cô thì còn rất trẻ từ 18 đến 27 chỉ có Bà Sáu may và cô Út là người già và lớn tuổi.Tất cả họ đều ăn chay nằm đất tuyệt đối , ông Sáu thì hay ngủ trên một chiếc võng bố màu nâu , Mẹ trầu thì có một cái cốc nhỏ chừng 2,5 mét với một cái bàn thờ để đồ, tượng đã chiếm 2 mét dài . Cái bàn thờ chiều cao chừng 1,5mét  dưới chân bàn lên từ 3 tấc có lót 2 tấm ván đó là chỗ ngủ của Mẹ trầu. Mẹ trầu nằm nủũ ở dưới gầm bàn trông thật lạ lùng mà cũng thật tội nghiệp. Chúng ta lần sẽ thấy quả thật Mẹ trầu và Lục Sáu đều là dị nhân .
    Sau 7 ngày đêm tụng Kinh Dược Sư tôi vẫn tiếp tục tụng kinh Pháp Hoa và  lễ sám hối ở đạo tràng, hồi đó tôi tụng niệm rất tinh tấn . Mỗi đêm sau thời tịnh độ của mấy cô (có khi tôi cũng tụng chung ) , tôi tiếp tục khai kinh riêng và tụng niệm cho đến lúc kiểng thức công phu sáng (khoảng 4 giờ sáng) ban ngày thì tôi niệm Đức Phật A-Di-Đà liên tục. Có thể vì cảm  mến  đặc tính tu tập của tôi mà ông Sáu cảm mến và thân thiết với tôi một cách dị thường.
    Năm đó tôi 23 tuổi Ông Sáu hơn tôi 1, 2 tuổi gì đó Tôi nói chuyện thường kêu bằng Sáu, sự gần gũi giữa Sáu và Tôi không còn một khoảng  cách. Trên lĩnh vực trưởng thành cuộc sống và tế nhị có lẽ Sáu đã vào tận chiều sâu hơn Tôi. Một hôm Sáu xin Tôi kết nghĩa làm anh em  và Tôi đã bằng lòng, điều nầy ở đây vô cùng quan trọng. Trong vùng núi độc tôn của Mẫu Mẹ nầy hiện tại đã có hàng trăm người râu tóc đã bạc, hàng ngày tôn kính chấp tay quỳ lạy dưới chân của Sáu, chưa bao giờ Sáu phán quyết điều gì có người dám cãi. Hồi đó tôi từng nói với Phước Điện, Nhất Phương là có một thế giới Quang minh  đỉnh một Nhậm Ngũ Hành và một Thánh Cô Doanh Doanh Lục Sáu là Doanh Doanh đấy. Các anh em nam nữ đạo tiểu ở đây khá đông, Tôi xin mở một Trường cơ bản Phật học để giảng dạy giáo lý. Sau nhiều ngày cân nhắc Sáu và Mẹ đã đồng ý ra lệnh cho ông Bảy (Sảnh) và mấy người nữa khởi công. Lúc bấy giờ cây cối, nhân lực, vật lực không thiếu nên chẳng bao lâu ngôi Trường ba căn  được hoàn thành tốt đẹp. Tôi về Sài Gòn đưa thêm một số Quý Thầy Cô lên núi để phụ dạy với tôi. Tôi soạn giáo án theo chương trình của Trường Lưỡng xuyên toàn bộ kinh và giáo lý do tôi giảng dạy, còn Nhất Phương và Quý Thầy thì phụ trách về các môn phổ thông văn hóa các đạo tiểu học sinh có trên 60 em. Đó là Trường Phật Học cơ bản đầu tiên ở Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Đồng Nai). 
    Tôi lại nói với ông Sáu xin Mẹ cho mở 100 ngày niệm Phật  Mẹ cũng đồng ý về Pháp môn Tịnh độ tôi đã từng nghiên cứu và tự tu hồi còn ở  Phật Học viện Lưỡng Xuyên và tiếp tục ở Chùa Chánh Giác Saigon. Tôi chế ra Pháp niệm bách nhựt (100 ngày) là thể theo cách hành trì Bác-chu-tam-muội  nhưng không phải chỉ đi suốt mà đi, đứng, ngồi, quỳ, tiếng Niêm Phật không dứt suốt 14 tuần 48 tiếng . Phương pháp niệm Phật nầy có thể dẫn tâm hành giả đến nhất-ý-bất-loạn  người yếu hơn thì có thể bất-niệm-tự-niệm .
    Tôi nhờ có niềm tin vững mạnh nơi Đại thừa và Tứ vô ngại pháp giới nơi Kinh Hoa Nghiêm mà việc tu tập niệm Phật tam muội được hiệu ứng rất nhiều tuy chưa vào định tụ tam muội nhưng trạng thái bất niệm tự niệm thì phát khởi trong tâm không khó khăn, cho đến tịnh tưởng thoại ứng cũng thường khi xuất hiện. Việc mở Trường cơ bản Phật học và đề xuất Pháp môn tu bách nhật niệm Phật ở Liên Huê Đạo tràng trên núi Bồng Lai rất được tốt đẹp suông sẽ. Ông Sáu lại cho một Cô Thị giả rất tốt bụng chân tu để hộ trì cho Tôi đó là Cô Tám, Cô Tám không có học thức hay đọc sách gì nhiều nhưng rất cần mẩn siêng năng và xốc vát. Trong đạo tràng Cô tuyệt đối tin Mẹ và ông Sáu , Cô Tám luôn thân cận ngày như đêm gần bên ông Sáu. Cô Tám không bao giờ than phiền hay trách móc với huynh đệ, Cô rất siêng niệm Phật và nấu ăn rất ngon. Một người thân cận đắc lực và tốt như thế mà ông Sáu đưa đến cơm nước và hầu hạ cho Tôi  khiến cho Tôi rất cảm kích có lần tôi ngủ ở ngoài trời một giấc đến nửa đêm thức dậy thấy Cô Tám ngồi bán già yên lặng gần bên Tôi, Tôi biết là Cô Tám ngồi canh giấc cho tôi ngủ được yên, có lần tôi đi chơi ở Di Linh ông Sáu cho Cô Tám và ông Sáu Độ (Hòa Thượng Huệ Tâm) đi theo để hộ Tôi. Có thể nói Sáu và Mẹ rất chìu ý tôi nhưng lạ thay tôi thì chưa bao giờ chìu ý Mẹ hay Sáu một lần nào cả.
    Tôi muốn có một cái thất riêng không xa Đạo tràng để qua lại hướng dẫn niệm Phật  và dạy giáo lý cho mấy em Mẹ liền bảo ông Bảy Sảnh  (sau này là Thượng Tọa trụ trì ở Chùa Phước Hòa) cất cho được như ý. Thất làm xong rồi tôi nói với Mẹ là Tôi muốn những tượng bằng đồng trong cốc của Mẹ đó Mẹ đồng ý và tôi vào lấy tất cả số tượng rất mỹ thuật đó qua thất Tôi  (như các tượng Ngư, Tiều, Canh, Độc v...v..). Mẹ và Sáu thật sự đã chìu chuộng tôi rất nhiều hơn là  những điều tôi nói ra đây. Có nhiều người lớn trong các Má đã nói trực tiếp với Tôi là Mẹ và Ông Sáu thương Thầy lắm đấy mới tắm rửa cho Thầy (cách dùng vị âm đặc biệt ) để sau Thầy thay thế cho Mẹ ... Tôi thường không phản ứng gì. Tâm Tôi rất nóng và những ấn tượng Giáo Hội, học đường còn rất đậm nên những điều cần linh động đáng lẽ nên linh động  mà tôi không linh động được quả thật Tôi là người chưa từng linh động và chưa biết linh động là gì cả.
    Có những điều tôi quá trực diện và thẳng thắn nên làm Mẹ và Sáu không được hoan hỷ nhiều và cũng làm phiền lòng hay tổn thương những người chậm tiến. Tuy vậy những đề cập và phát triển khái niệm tiến bộ trong phương cách hành đạo theo giáo điển, cũng như việc mở trường dạy giáo lý và hình thành  Niệm  Phật Tôi rất tận tụy, cố công tích cực không phải  là hoàn toàn cho tôi  Mẹ và Sáu có khả năng thuyết phục rất  cao . Biết cách “chiêu Tăng đãi Đạo” rất khéo nhưng bản chất tôi thì cứng đầu và có thể thực hành những gì mà mình hiểu được như khuyến phát mở trường Giáo lý Niệm Phật Tam Muội.
    Tuy tôi hết lòng khuyến khích việc học nhưng sâu kín của nó phải là “Học vấn nhi Đạo vô tha”, người ta nên có kiến thức nhưng không nên nhân danh kiến thức và sự tăm tối hơn là cho kiến thức đó là của mình. Ai sử dụng như thế thì thà không có kiến thức lại tốt hơn . Tất cả chúng ta ai cũng có thể thấy được thế giới đầy bất trắc hiễm họa trùng trùng tất đều từ  “cái  không biết “ mà khởi sanh đều từ cái ý nghĩ Ta là đúng  họ đã sai  không quan trọng bằng “cố chấp” đúng sai . Người ta không nghĩ rằng “cố thủ “để bảo toàn cái đúng chèn ép lấn đoạt sẽ nảy sanh và bất hạnh nguy biến từ một cá nhân cho đến toàn cầu không tránh khỏi. Hãy nhìn lại sử liệu thế giới từ ngàn năm trở lại cuộc lời lỗ tan thương đều xóa sạch. Người ta chỉ còn lại trong đầu một cái nhớ như ảo ảnh đầy luyến lưu ân hận .
    Như trong sách này các bạn đã biết Tôi đã bỏ học nhiều lần (bỏ cả Trường Phật học) lúc còn nhỏ tôi chưa biết cái học từ chương là qui định, học trong kiến thức Nhị biên làm tâm thức ta bị đóng khung và chết cứng tuy chưa biết kiểm nghiệm lý trí nhưng cách phản ứng tự nhiên trong khuynh hướng hòa nhập thiên nhiên của tôi nó tự động cách ly rồi chìm lặng với hồn nhiên của tuổi trẻ. Tâm hồn trẻ trung chưa nhiểm kiến thức thì hồn nhiên với thiên nhiên là một. Đó là tự tính nguyên thuỷ của chẳng những con người mà cũng là bản chất mọi loài vạn vật. Không học bài bản theo nhà Trường nhưng tôi biết cách học trong hiện tượng đời sống. Tôi có thể học biết vì sao con vật lại dành đồ ăn, tại sao chúng đần độn, vì đâu tai, mắt của nhiều giống vật lại thính thị hơn con người. Tôi biết được nổi khổ niềm vui  cùng với sự tan xóa như bọt biển thủy triều trên bờ cát biển .
    Tôi tự học trong tiếng nói nụ cười, trong giọt lệ, trong thì thầm  sự giục giã  động lay  trở trăn của con người chính tôi cái hôn mê và giấc ngủ từ đâu đến từ đâu đi , những dục vọng điên cuồng trong đêm tối, những ảo ảnh bóng mờ, những vô âm cuồng nộ và những thao tác liên miên bất tuyệt qua thời gian vô ngôn và không gian vô ảnh.    Cách học hỏi trực diện và đụng đầu như thế làm cho tôi xác nhận được lẽ chân, hiểu ra cái thiện cùng sự thưởng thức vẻ đẹp bất toàn trong vạn vật. Tôi thường thấy những chiếc lá màu xanh, xanh hơn cái xanh mà tôi thấy. Tôi  thấy những cánh hoa màu hồng vàng cái hồng vàng linh diệu  hơn  nhiều  trong tầm nhìn mà tôi thấy. Một áng mây lờ lững trôi về đâu trong khoảnh trời vô tận, một giòng chảy xanh lơ từ con sông huyền thoại trôi mãi trôi mãi không về. ó lúc tôi trở lại thành dốt nát vô tri và cái hiện thực lại hợp thời hơn là những tư duy kinh nghiệm. Nhờ hiện thực ứng dụng bất phân mà tôi làm cho việc học và việc tu trở nên nhất thời nơi chốn núi non rừng rậm. Vừa dạy theo chương trình Phật Pháp mà tôi đã soạn ra Vừa hướng dẫn khóa tu cho Đạo tràng mà tôi vẫn áp dụng thực tập cho chính mình. Tôi không trở ngại giữa việc dạy họcc hướng dẫn và việc tu tập của mình , tôi nghĩ món ăn có thay đổi thì ngon miệng hơn, cảnh quan đa dạng thì nhìn càng sắc động và việc làm nhiều sai khác thì ứng dụng của tâm càng mở mang rộng rãi, trước tiên là cái tâm đừng bị hạn cuộc, tâm ý thức về cái đa năng của nó và bằng lòng chấp trì vui vẻ trong hành động Tôi muốn nói trong cuộc sống tiến hóa của chúng ta làm việc học và tu không cần phải tách rời. 
    Hồi đó tôi thường niệm Đức Phật A-Di-Đà liên tục, nhiều lần nhìn lên cây rừng tôi thấy trong những lá cây có hình Đức Phật A Di Đà. Một buổi sáng trong Đạo tràng Liên Huê có đông người đang đi kinh hành niệm Phật, Tôi là người hướng dẫn khi chúng đã ỗn định nghi thức thì tôi không nhất thiết đi trọn thời khóa. Tôi bước ra ngoài đạo tràng để thở không khí ngoài trời buổi sáng vừa nhìn lên những cây rừng tôi bổng thấy tất cả lá cây đều có chong chóng và hình đầu đạn chưa đầy năm phút sau tôi nhìn xa hơn về phía trước bổng thấy có hai chiếc máy bay phản lực cơ dường như loại B52 máy bay đến rất nhanh càng gần thì máy bay càng hạ thấp tôi quay lại chui vào một cái hang gần đó có mấy cô ngoài đạo tràng cũng chui vào cái hang có cả ông Sáu nữa. Vừa chui lọt vào hang đã nghe ngay trên đầu những tiếng nổ lớn. Những trái bom chùm liên tục từ máy bay thả xuống chính ngay nóc hang. Hang thấp chừng 1,50 mét và trong lòng hang hẹp nhỏ chừng 2,20 mét. Mấy cục đá chụm lại thành nóc hang không to lớn gì  mà lại mỏng mỗi lần bom thả xuống cả hang đều rung rinh như muốn sập  cát bụi đổ đầy trên đầu chúng tôi Tuy không sợ lắm nhưng lúc đó người tôi như muốn xỉu và gần ngã xuống Sáu ngồi sát bên liền ôm gọn Tôi vào lòng và Sáu bắt đầu ”hát” lên cầu nguyện. Giọng hát  thật cãm xúc thanh âm ngập tràn nguyện lực tầng tầng cao vút như dâng trọn vào cõi hư vô. Tôi nằm gọn trong lòng của Sáu như nằm gọn trong cái cao vời thiêng liêng vô hạn  Tôi không còn sợ hãi và quên đi những áp lực chết người sát bên và kề cận.
    Tôi nghĩ trong lòng hay là do từ âm ba đầy  thiêng liêng huyền diệu nầy làm những trái bom  kia giãm trừ đi trọng lượng ... hoặc những phát xạ trong mục đích của người phi công gặp phải những luồng phản tác chân thành nầy hóa giải đi bất cứ từ nguyên do nào trúng hay sai cũng làm lệch lạc đi tai họa cho chúng tôi và Đạo tràng đang niệm Phật. Những trái bom vừa ngừng trút xuống  đầu hang chúng tôi thì hàng loạt tiếng rốc kết bắn xuống đạo tràng liên tục. Những người kinh hành vẩn đi quanh trong lòng đạo tràng đầu đạn rốc kết từ máy bay rải xuống mái tôn tạo thành  lỗ trống như một cái phin cà phê to lớn.
    Không có viên đạn nào được phúc lành kết duyên với người đang niệm Phật nhưng nhờ những viên đạn khoan lỗ mở đường cho Nhật quang phổ chiếu  từ trên tỏa xuống người tu hành. Người niệm Phật lắng nghe âm thanh niệm Phật thì trở nên trường thọ. Gần với thời gian những chiếc máy bay ném bom, thỉnh thoảng có những quả đạn không biết từ đâu bắn tới rớt vào vùng núi rừng. Một hôm tôi đi dạo rừng vừa đến ngang hông một tảng đá chừng bằng cái bàn  dài tự nhiên chân tôi quỵ té nằm xuống theo chiều tảng đá, bổng một tiếng nổ dữ dội vang rền sát bên, quả nhiên là một trái đạn đã rớt ngay bên phiến đá, khoảng cách chỉ chừng một mét mà thôi. Tôi vùng đứng dậy đi mau về phía trước, vừa đi tôi vừa nghĩ lạ thật bổng nhiên sao lại té đúng lúc vậy ? Nếu không té, trái đạn nổ gần như thế thì mình sẽ ra sao!... Sự cố hiễm nguy cùng tử vong có thể đến mà không cần hẹn  trước. Người học đạo hay nói đến lý vô thưởng, khổ không ... nhưng lúc nào họ cũng phớt tỉnh và không ngừng nghĩ theo những hành động  đầy tư dục của mình.    Một hôm một mình đi vào rừng đến gần một hốc đá Tôi thấy một con kỳ đà to lớn bằng đứa bé 9, 10 tuổi  một nửa nó đưa mình trong hốc đá một nửa nó ló ra bên ngoài chân sau nó to như cổ tay. Tôi lặng lẽ đứng nhìn và tự nghĩ sao lại có con vật lớn như thế? Ở đường bằng mình có thể cưỡi lên lưng nó được hoặc nó có thể chở đồ đạc trên một chiếc xe thấp ...nhưng liền đó tôi lại nghỉ nó khoẻ mạnh như một biểu tượng nguyên thủy thiên nhiên mà sao mình không nghĩ đến ? Con vật nầy đi lại một mình đơn độc có thể nó đã chứng kiến rất nhiều những huyền hoặc ở rừng sâu có thể nó sống đến vài trăm năm không chừng ! Thật sự mình không biết được cả hai mặt trong sự tồn tại của nó, Tôi đứng nhìn con vật một hồi lâu bổng thấy trong tâm mình có một cảm tình rất thật , một chút tình bao la hoang dã mà không biến làm tư dục.
    Tôi hối hận cái ý nghĩ ban đầu khi nảy mới thấy nó mình đã lợi dụng ngay  mình muốn cưỡi nó và bắt nó làm việc chở đồ đạc ... Thật sự mình không ra gì cả trước đó nhiều lần tôi tự nghĩ rằng mình thông minh vĩ đại bây giờ mình bắt gặp chính mình một nhân cách ti tiện , hẹp hòi, nhỏ bé  đầy dục vọng và không có tình thương . Tôi quỳ xuống sám hối và lạy cả những cục đá gốc cây và tôi nghĩ chỉ có sám hối lễ lạy chiêm ngưỡng những biểu tượng bất động  thanh bình và vô tư tính như vậy thì mình mới thoát ly được tất cả ảo  tưởng lòng vòng bất tận , từ đó Tôi hay lễ bái vào thiên nhiên cùng tất cả hiện tượng như tự mình thể nhập vào cái “Bất -  khả “ cái vô cùng của sắc tâm và vô hạn. 
 
Bản quyền thuộc về Trang Thơ Phù Vân Trang Tử
Email: phuvantrangtu@gmail.com
Website: http://phuvantrangtu.com
Nghiên cấm sao chép khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Thứ hai - 26/06/2017 22:54   Đã xem: 33
 Từ khóa: Lên Đường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Facebook PhuVanTrangTu
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây